BứC Ký HọA CHÂN DUNG
Tôi đã viết hồi ức về hai người thầy tôn kính: GS Đặng Thái Mai
(Được học giờ Văn đầu tiên của GS. Đặng Thái Mai - Tuyển tập Mười năm Tạp
chí Văn học và tuổi trẻ) và thầy Nguyễn Quát (Thầy Nguyễn Quát của
chúng tôi - Báo Giáo dục và thời đại số 63/64 năm 1994).
Giờ đây cầm bút viết về thầy Trần Quốc Nghệ,
người thầy giáo nổi tiếng ở miền Trung, người đã từng dạy dỗ tôi và đã có ba
năm liền chung sống dưới mái trường Phan Đình Phùng (từ 1957-1960) mà sao cảm
thấy khó khăn quá vậy! Bởi lẽ viết hồi ký thì ít nhiều có khen chê, mà khen chê
thầy giáo mình tôi cảm thấy đại bất kính và với thầy Nghệ lại thêm sự bất nhã.
Một lẽ khác, tuy sống gần thầy nhưng thực ra hồi ấy tôi không hiểu thầy lắm,
đến khi kịp hiểu ra thì thầy đã về với cõi vĩnh hằng rồi .
Thôi đành ghi lại một vài sự thật, không bớt không thêm để bạn bè
đã học với thầy hoặc những thế hệ sau hiểu thêm về một người thầy giáo đầy tâm
huyết nhưng số phận lại hết sức éo le, chìm nổi. Hiểu được thầy, có lẽ cũng là
một sự đền đáp phần nào công ơn để thoả lòng người dưới chín suối.
Một ngày cuối năm 1952, khi học trường cấp II Trần Phú ở Ngu Lâm
(xã Đức Trung bây giờ) trong giờ học, một anh bạn chuyền cho tôi một bức ký hoạ
chân dung bán thân bé bằng bàn tay, vẽ bằng mực xanh khá đậm nét, hàng dưới có
dòng chữ: GS Trần Quốc Nghệ. Lật ra phía sau có dòng chữ nhỏ: Kỷ niệm
trường Thiếu sinh quân Liên khu IV. Nghĩ mình lên cấp ba được học với người
thầy giỏi nổi tiếng là rất mừng.
Nhưng khi nhìn vào bức ký họa, tôi sững sờ một lát. Đó là hình vẽ
một người tóc "húi cua ', sát tận đỉnh đầu, chỉ
buông một mái nhọn xuống trán, đầu hơi nhọn, tướng của người tài (Đàn ông
nhọn kẻ có tài - Tục ngữ). Cặp mắt to nhưng bị lác, (có không ít người
bị lác rất nổi tiếng, ví như triết gia J.P.Sartre, luật gia Phan Anh . .
.), mũi tẹt, môi trên ở nhân trung có vết rách nhỏ. Một người dị tướng, dị
tướng thường có kì tài. Tỉ mẩn ngắm nhìn,tôi thấy toàn bộ bức hình dường như
được cấu tạo bằng chữ X hoa bẻ gập. Sau này tôi được biết thầy là một con người
hết sức thông minh, có tài nhưng cuộc đời có nhiều ẩn số và rồi về sau này nữa
có người xem thầy như "một ẩn số nào đó mà thôi', nhất là
những ngày "oan khổ lưu ly" chẳng biết sống chết lúc
nào ?
Tự nhiên, bức ký hoạ gây một ấn tượng mạnh, thu hút tâm trí của
tôi từ ngày mới lớn và cho đến bây giờ về già vẫn còn nhớ như in. Kèm với bức
tranh ký họa là một loạt giai thoại không đầu không cuối. .
GIAI THOạI KHÔNG HẳN Là CHÂN DUNG
Mấy tháng sau, con người trong bức ký hoạ đó hiển hiện trước mặt
tôi. Dưới gốc cây long não của trường Trần Phú (lúc này là Phan Đình Phùng) có
bạn chỉ cho tôi một người tầm thước, vai rất rộng, vóc dáng lực sĩ trong bộ đồ
bà ba đen nhánh: thầy Trần Quốc Nghệ. Nhìn thoáng qua tôi càng cảm phục anh bạn
nào đó đã vẽ bức ký hoạ hết sức chân thật và sinh động.
Những giai thoại về thầy Nghệ lan truyền rất nhanh trong học sinh.
Trong ngõ, xóm, đường làng dẫn tới lớp học, ở sân trường, trên những phản gỗ,
giường tre, câu chuyện về thầy Nghệ được rì rầm bàn tán. Nào là hồi học Tú tài
ở Huế, thầy là một bốc - xơ vô địch Trung Kỳ, những tay đấm có hạng Tây hay ta
đều lần lượt bị thầy cho nốc - ao khiếp đảm; nào là thầy đã đấm một thằng Tây,
bạn cùng lớp vì thằng này dám chửi một người Việt Nam là "đồ
An-nam bẩn thỉu'(sale Annamite). Vì vụ đó, thầy phải trốn về
quê ở Thái Yên (Đức Bình) một thời gian. Nào là thầy học rất giỏi, tiếng Pháp,
tiếng Anh nói như gió lại thông thạo cả chữ Hán. Và nhỏ to thì thầm về những
chuyện khác của thầy nữa.
Sau cách mạng thầy được mời dạy môn tiếng Pháp và văn học Pháp ở
trường Chuyên Khoa Huỳnh Thúc Kháng ở Châu Phong (Đức Phong).Thầy lên lớp không
cần giáo án sách vở, hai tay đút túi quần, đọc thuộc lòng hàng tràng thơ và
kịch thơ Pháp...Những giai thoại ấy khiến chúng tôi càng tò mò và muốn được học
với người thầy đa tài ấy. Nhưng thật rủi, lớp tôi chỉ được học mấy giờ với thầy
vì chủ yếu thầy phụ trách ở khối 9 cuối cấp (lúc đó cấp 3 chỉ học hai năm: lớp
8 và lớp 9). Tuy chỉ có mấy giờ nhưng ấn tượng của thầy để lại đậm nét vì không
phải là giai thoại.
Tôi nhớ một tiết giảng văn trích trong "Cung oán
ngâm khúc"của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798):
Trải vách quế gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào. . .
Những " Vách quê', "' Vũ y',
"tiêu phòng" chúng tôi dã được biết qua sách "Cung
oán ngâm dẫn giải" nhưng sao lại "gió vàng"và
"Phận bạc nằm trong má đào? Dường như nắm được cái chưa biết đó,
thầy nhấn mạnh: gió vàng, chữ Hán là kim phong, kim là cung chỉ phương
Tây, "gió vàng"là "gió tây"thổi về mùa
đông lạnh lắm, cho nên mới có "mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng".
Người cung nữ với manh áo múa mỏng tanh, mới lạnh lẽo làm sao và câu thơ câu
thơ mới hiu hắt làm sao! Còn "má đào" (đào kiểm)
và "phận bạc" từ "hồng nhan bạc
phận"? Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đều nói, nhưng hơn chục năm trước
Nguyễn Gia Thiều đã nói. Một chủ đề huyết mạch trong văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đông Xuân 1953-1954 càng gần
chiến dịch Điện Biên, ở khu IV càng sôi sục không khí đấu tranh giảm tô và cải
cách ruộng đất. Tôi nghe tin thầy Nghệ bị bắt và mấy ngày trước đó, dường như
linh cảm thấy điều chẳng lành, lên lớp thầy kể truyện Những người cùng
khổcủa V.Huygo cho học sính, một tác phẩm nổi tiếng thế giới mà thầy đọc
thuộc lòng như thuộc Truyện Kiều của Nguyễn Du.
CHUYệN Có THựC KHÔNG Là GIAI THOạI
Cuối năm 1954, giải phóng thủ đô, tôi ra Hà Nội học ở Trường Đại
học Văn Khoa, nay là Đại học Sư phạm. Năm 1957 trở về nhận công tác ở trường
cấp ba Phan Đình Phùng (ở Thị xã Hà Tinh), được gặp lại ba thầy giáo cũ: Thầy
Nguyễn Quát, thầy Trần Văn Thứ và thầy Trần Quốc Nghệ. Mới ba năm mà các thầy
già đi nhiều, thầy Quát tóc đã điểm bạc, thầy Nghệ, thầy Thứ gầy gò dáng hom
hem của người già và trên nét mặt hằn những vết sâu của cuộc đời chìm nổi.
Thầy Nghệ vừa ở nhà giam ra, sau khi có chí chỉ thị sửa sai cải
cách ruộng đất và được trở lại giảng dạy như trước. Thầy gầy và nhỏ hơn, không
còn phong độ như hồi ở Ngu Lâm. ở tuổi xấp xỉ "tri thiên
mệnh", thầy ít nói, ít vui, không buồn, dường như cam chịu số phận đã
an bài. Trên bàn, đôi khi tôi thấy dòng chữ Hán của thầy: Ngã thụ mệnh ư thiên
(Ta chịu mệnh ở Trời).
Thầy ăn uống rất đạm bạc, cứ bữa xuống nhà ăn tập thể giáo viên:
suất của mỗi người là một tô cơm, một bát canh và con cá trích (có khi là quả
trứng, khi vài miếng thịt), những hôm dạy về muộn cơm đã nguội ngắt cứng đờ.
Mặc thì hai bộ Ka ki Nam Định, đắp đổi nhau và thầy rất
ít khi tắm giặt như là người sợ nước. Nhưng điều kỳ lạ là tuy ở trong nhà giam
ra, thầy đã bắt kịp các kiến thức mới mẻ mà chúng tôi phải miệt mài học tập ba
năm ở Giảng đường Đại học để nghe các GS. Đặng Thái Mai, Trần Văn Giàu, Trần
Đức Thảo, Trương Tửu...giảng bài. Trong đó có những bộ môn hoàn toàn mới và
không dễ như: Triết học duy vật biện chứng, lịch sử tư tưởng, lý luận văn học.
Thầy được phân công dạy lớp 1 0 cuối cấp, không chỉ vững về kiến thức mà còn
truyền thụ giáo dục nhân sinh quan Cách mạng cho học sinh. Quá khứ nặng nề của
thầy dường như đã được quên lãng, đã bị xoá nhoà. Phải nói rằng trong những
trường hợp như thế, con người rất khó giữ được cân bằng về ý thức, về tình cảm,
nói chi đến sự truyền thụ tư tưởng tiến bộ cho học sinh. Vậy mà năm học
1957-1958 ấy trong kỳ thi tốt nghiệp chấm chung của ba trường Lam Sơn (Thanh
Hoá), Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An) và Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh) ở thành phố Vinh,
học sinh của thầy đạt gần 100% (chỉ một, hai người hỏng), chiếm tỉ lệ cao nhất.
Một kỳ tích âm thầm như vậy của thầy giáo thường rơi vào im lặng.
Trong năm học đầu tiên ở trường Phan Đình Phùng, nhân dịp kỷ niệm
ngày sinh của nhà văn M.Gorki, tôi được phân công nói chuyện về văn hào Nga
trước toàn trường. Bài nói khá thành công, tiếng vỗ tay rào rào khi tôi trích
dẫn câu nói nổi tiếng của văn hào Pháp A.France:"Ngày nay trên bậc
thang thời gian đã nghe tiếng guốc gỗ ( người nghèo) đi lên và tiếng giày
vec-ni (người giàu) đi xuống '?
Nói xong, thầy Quát sung sướng đi lên bắt tay, còn thầy Nghệ chỉ
nói: "Khá lắm, sinh viên ở trường ra nói được ba tiếng như vậy là khá
lắm". Một lời khen đúng mực như là một tiêu chuẩn đánh giá thầy dạy Văn.
Sau này gặp lại thầy, thầy có nói : giáo viên mới ra trường không mấy người có
thể nói chuyện văn chương trong vài ba giờ như cậu.
Năm học 1957-1958 qua đi vui vẻ. Mùa hè năm 1958, tất cả giáo viên
cấp II, III miền Bắc tập trung ở trường Bổ túc công nông để chỉnh huấn tư
tưởng, quét sạch nọc độc Nhân Văn - Giai phẩm trong nhà trường. Có lẽ chưa có
một đợt chỉnh huấn nào có quy mô rộng lớn và kéo dài như vậy. Trưởng ban chỉnh
huấn là đồng chí Võ Thuần Nho, bí thư là đồng chí Hà Huy Giáp (Thứ trưởng Bộ
Giáo dục). Các giảng viên đến giảng bài có các đồng chí Trường Chinh, Hà Huy
Giáp, Nguyễn Khánh Toàn, Đỗ Mười, Ngô Minh Loan... Một tháng học lý thuyết, một
tháng kiểm thảo, thời gian viết kiểm thảo quy định " nội bất xuất, ngoại
bất nhập".
Người được chọn kiểm thảo điển hình cho cụm giáo viên khu IV,
không ngoài ai khác là thầy Trần Quốc Nghệ. Nhưng dường như quanh đi quẩn lại
cũng chừng ấy vấn đề: với Quốc Dân Đảng, với những phần tử Nhân Văn Giai phẩm.
Cũng may cho thầy là hồi ấy ở trong khu IV không có liên hệ với ai, còn chúng
tôi cũng may là không tham gia, không liên hệ gì cả. Sau chỉnh huấn, tư tưởng
được đổi mới, phấn đấu nhiều hơn để lột xác tiểu tư sản (tạch tạch sè) và đứng
vào hàng ngũ người lao động. Còn thầy vẫn như trước, có phần ưu tư hơn. Một
hôm, thầy nghĩ thế nào lại nói với tôi: "Cậu thấy không, chỉnh huấn rồi
cũng về ngày ngày soạn bài, lên lớp chấm bài, có khác gì đâu"? Tôi sững
người, thầy Nghệ "vô chính trị"đến thế là cùng ! Ai mà nghe được câu
đó thì không biết thầy bị mấy lần kiểm điểm. Nhưng suốt một thời gian dài, tôi
không dám nói với ai, vì tôi nghĩ con người đôi khi vẫn có những lúc buột miệng
lỡ lời, nếu đem quy kết thì dễ thành tội nặng là đằng khác. Thời ấu trĩ về
chính trị ấy, có người chỉ vì một câu nói, một bài báo cũng đủ kết tội đến mấy
chục năm không gỡ ra được.
Thỉnh thoảng tôi thấy thấy đứng tựa cột nhìn chúng tôi trẻ trung
yêu đời, vô tư trong cái tuổi chưa hề vấp ngã trong cuộc sống mà dường như nuối
tiếc. Thỉnh thoảng, anh Đoàn Duy Xuân ở chung phòng với thầy kể lại trong cơn
mơ thầy nói một tràng tiếng Pháp hay tiếng Anh rồi chìm sâu vào giấc ngủ.
Sau chỉnh huấn, chi đoàn thanh niên chúng tôi đề ra phong
trào "tam tu' tu nghiệp, tu đức và tu văn. Ngoài phần lên
lớp thì đi dự giờ, học ngoại ngữ và chiều chiều kiểm điểm tư tưởng.. Chúng tôi
đi dự giờ của nhau và dự giờ thầy để học thêm. Thầy nói trước: giờ giảng của
thầy không có gì hấp dẫn, chỉ đạt điểm 3 (điểm trung bình hồi đó). Vẫn như ngày
trước, khi tôi được học giờ giảng văn Cung oán ngâm khúc năm
nào, thầy hướng dẫn, học sinh hiểu kỹ hiểu sâu những từ ngữ then chốt để từ đó,
trong hệ thống bài văn, học sinh đi vào ngõ ngách tình cảm và tư tưởng của nhà
văn. Nói như phép dạy Văn hiện nay là "vượt bức tường ngôn ngữ '
để bước vào thế giới tư tưởng, nghệ thuật. Nhưng chúng tôi thường quên bức
tường này, vội xông vào thế giới tư tưởng để nói những điều ai cũng biết rồi mà
cứ tưởng là mới mẻ, hay ho, thú vị lắm. Bởi lẽ chữ nghĩa của chúng tôi không
nhiều, vốn sống lại ít nên chỉ nói như sách mà thôi.
Đúng là giờ văn của thầy không hấp dẫn vì giọng đọc, không thích
thú vì những lời lẽ bay bướm văn hoa, vậy mà học sinh hiểu kỹ, hiểu sâu bài
giảng và quan trọng hơn là có thể nói lại những điều đã hiểu bằng lời lẽ của
chính mình chứ không mượn lời của thầy giáo hay sách vở. Vì thầy dạy giỏi, nên
Tổ Văn phân công thầy dạy thêm lớp 8 đậu vớt (gồm những học sinh điểm thi xấp
xỉ trung bình). Thế mà sau một học kỳ, qua kiểm tra đề thi chung toàn khối, xáo
trộn đanh sách rọc phách hẳn hoi, kết quả lớp 8 của thầy chẳng thua kém lớp
nào. Cho đến nay, sau 40 năm trong nghề tôi thấy ít người dạy giỏi như thầy.
Những đóng góp âm thầm của nghề giáo như vậy chẳng ai xem là kỳ tích gì ghê
gớm, không bằng thành tích đào đất của một cô gái làm thuỷ lợi trong một chiến
dịch thi đua nào đó. Không cờ luân lưu, không giải thưởng, bằng khen, tuyên
dương rầm rộ gì cả. Chỉ lặng lẽ mà khâm phục, lặng lẽ mà quên đi.
Nhất là một người có quá khứ phức tạp như thầy. Người vừa ở nhà
giam ra ( nhà giam cách nhà trường 3 cây số!) mà được phân công đứng lớp truyền
thụ tư tưởng tiến bộ cho học sinh, dạy văn học Cách mạng ở lớp cuối cấp. ở vào
thời ấy, người bảo đảm cho thầy kể ra cũng là người biết trọng tài và có bản
lĩnh, vì tôi biết có người gặp thầy còn muốn lánh mặt. Nhưng ở trường Phan Đình
Phùng và cả bên Ty Giáo dục, ai ai cũng đối xử thân tình, từ ông Trưởng Ty đến
cô nhân viên, ai cũng một điều "thầy Nghệ"hai điều "thầy
Nghệ" ít nhiều kính nể. Có lẽ sự nâng đỡ ấy làm thầy vững tin
hơn, nhiệt tình hơn.
Năm 1959, xảy ra vụ Ngô Đình Diệm đầu độc dã man các tù nhân yêu
nước ở nhà tù Phú Lợi. Cả nước sôi sục căm thù. Bài thơ "Thù muôn đời
muôn kiếp không tan " của Tố Hữu như một ngọn gió quạt lửa căm
thù bùng lên ngùn ngụt. Thầy thức trắng hai đêm dịch bài thơ của Tố Hữu ra
tiếng Anh và tiếng Pháp và gửi ngay cho báo Le Vietnam en marche. Bản dịch được người bạn cũ là Hoàng Tôn Trinh - GS Hoàng Trinh)
đăng lên báo và có sửa chữa chút ít. Thầy vui hơn, trẻ hẳn ra. Nhân khi thầy
đang vui tôi hỏi: "Vì sao thầy không trước tác, dịch thuật?".Thầy
nói: "Cậu biết không, tử vi của mình đã ghi: "Xuất thế công danh đạp
phá hài"(Ra đời công danh đi giày rách). Chỗ đứng của mình là đi
dạy học và chỉ có dạy học mà thôi". Tôi lại hỏi: "Thế trong đời, đã
có khi nào thầy cảm thấy đắc ý chưa?" "Có. Có hai lần. Lần đậu Tú tài
không sướng, nhưng sướng nhất là khi hạ nốc - ao võ sĩ vô địch Trung Kỳ, cú
direct (cú đấm trực tiếp) của mình không thằng nào đỡ nổi...Và lần thứ hai,
tướng Nguyễn Sơn cho Nguyễn Tiến Lãng đến mời mình dạy văn học Pháp cho trường
thiếu sinh quân LKIV. Danh tiếng Nguyễn Tiến Lãng, người viết tiếng Pháp nổi
tiếng đến Tây cũng phục lăn, cậu nghe tiếng chưa? Lúy đến nhà
mình hai lần không gặp. Lần thứ 3, mình đang nằm xem sách, ngoảnh mặt vào
tường, quay ra thấy Nguyễn Tiến Lãng đứng dưới sân. Lãng nói to bằng tiếng
Pháp, đại ý dịch tích "Tam cố thảo lư, Lưu Bị cầu hiền"" (Lưu
Bị ba lần quay lại nhà tranh cầu Gia Cát Lượng ra giúp). Vứt sách cười ha
hả, cũng chẳng nghĩ là cái ông Lãng ôm chân Tây như thế nào ngày trước
nữa..."
"Thế còn lần Bộ trưởng Cù Huy Cận, nhà thơ danh tiếng Huy Cận
đến thăm thầy?"
"ừ, bạn cũ lâu năm đấy? Mình ra ngõ đón nhưng buột mồm nói:
"Đến thăm bạn cũ , thật vinh dự thay cho Bộ trưởng ?". Ai cũng ngạc
nhiên cho là mình xỏ xiên tự phụ, nhưng mình nghĩ: Ngày xưa thủ tướng Các-nô
nổi tiếng đến thăm thầy giáo già của mình. Chuyện đó được in trong sử sách và
đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh Pháp và Nam, cậu biết chứ? Nhưng học trò Các-nô đến
thăm thầy thì chỉ thêm vầng hào quang cho thủ tướng Các-nô chứ ai biết thầy
giáo nghèo đó là cái ông nào. Thấy chưa?" Lặng im một lát thầy nói nhỏ
"Lẽ đời là thế nhưng dù sao vẫn còn hơn đứa phản phúc, lừa thầy phản
bạn" . Nói thế nhưng thầy chẳng ám chỉ ai vì trong đời, thầy chỉ gặp những
học trò cũ của mình giúp đỡ, cứu nguy chứ chưa thấy ai phản phúc. Và nếu có,
thầy cũng bỏ qua vô tư như là Giăng Van Giăng, một nhân vật mà thầy rất ưa
thích trong tác phẩm của văn hào Vích-to Huy gô , như là Thuý Kiều "thân
này còn dám coi ai làm thường"
Có lẽ đức tính vô tư quý giá đó đã cân bằng được hoàn cảnh xáo
trộn ghê gớm trong đời thầy. Một lần học sinh lớp 10 sắp thi tốt nghiệp và Đại
học, Công Đoàn trường mời thầy nói chuyện kinh nghiệm thi cử cho cả trường nghe.
Phần đầu nghiêm túc nhưng khô khan, phần sau thầy chuyển sang kể chuyện. Chuyện
rằng: Hồi thầy còn trẻ như các em bây giờ đi thi Tú tài, môn Địa lý là môn thầy
không thích. Không ôn được chữ nào. Sáng hôm thi ô-ran (vấn đáp), thầy mặc bộ
com-lê đẹp nhất, thắt cà vạt hẳn hoi. Thấy một giám khảo người Pháp, thầy bắt
chuyện. Hai người xì xồ tiếng Pháp thân mật lắm, vì ông Tây kia cũng tưởng thầy
là giám khảo kỳ này. Còn ông Tây hỏi thi Địa lý lại tưởng thầy là bạn của ông
kia. Thế là vào phòng thi, thầy Địa chỉ hỏi qua một câu và cho điểm vingt
sur vingt (20 điểm trên 20) ngay tắp lự. Học sinh nghe chuyện thì rất
khoái nhưng các thấy giáo ngồi nghe chỉ cười gượng mà không dám phàn nàn. ấy,
cái vô tư của thầy là như thế? Nghiệm ra trong cuộc sống, các bậc trí thức đều
có cái vô tư mà hồi đó có thể quy kết là phi chính trị được lắm?
Cũng trong dịp "căm thù Phú Lợi " , tôi mời thầy dự giờ
giảng văn "Thù muôn đổi muôn kiếp không tan" ở lớp 9. Dự lớp xong,
thầy vui vẻ: "Hay, giảng hay lắm, cầm lớp vững, truyền thụ khéo, đươc cả
khí thế căm thù lại được kiến thức văn học. Nhưng hình như có bao nhiêu hiểu
biết cậu nói tuột hết cả rồi. Bây giờ cậu thử lấy bài này, soạn cho mình ba
giáo án khác nhau để dạy ở lớp 8, 9 và 10. Làm được thế mới là tay nghề,
còn dạy ở lớp nào cũng như lớp nào thì chỉ là tay ngang thôi".
Trời ! Đây mới thật là cụ tổ của nghề dạy văn !
Một lần khác trò chuyện, thầy nói: Mình dạy nhiều, hiểu bài giảng
cũng kỹ như là hiểu học sinh. Biết cái chỗ học sinh chưa biết, biết cái
chỗ thầy chưa biết, ấy là người biết vậy! Phải chăng dây là bí quyết
của nghề dạy học mà thầy muốn truyền thụ cho học trò còn non tay nghề. Tiếc
thay chưa có một công trình lý luận nào đúc kết lại được.
Nghĩ lại thật thấm thía! Bây giờ hiểu được thầy mới dám viết về
thầy. Nỗi đau vật vã về cuộc đời và số phận có lẽ từng là nỗi đau của cả thế hệ
trí thức cũ đi theo cách mạng. Có thể gột bỏ con người cũ trong nhận thức và
tình cảm nhưng đâu có dễ rủ bỏ số phận con người. Riêng thầy Nghệ, số phận còn
éo le hơn, cay đắng hơn nhiều người - một "Giăng Van Giăng" đã đứng
vững và tiếp tục cống hiến cho nghề - nghề dạyvăn - một nghề không dễ dàng chút
nào, nếu không muốn nói là một nghề nghiệp khó khăn bậc nhất. Vì dạy Văn không
chỉ đòi hỏi trí tuệ tỉnh táo mà còn là tình cảm chân thật dồi dào và một lòng
thiết tha với thế hệ trẻ. Vượt qua số phận nặng nề, thầy Trần Quốc Nghệ là một
người, Tài như thế và âm thầm cống hiến, tâm ¨như
thế, xứng đáng được tôn vinh không chỉ một thế hệ mà nhiều thế hệ học trò về
sau. Có phải không các bạn?
Từ
khóa:
NHỚ NGƯỜI THẦY “SIÊU GIỎI” TRẦN QUỐC
NGHỆ CỦA CHÚNG TÔI
· HÀ VĂN TẤN
· Thứ
hai, 25 Tháng 4 2011 18:36
· font size
' alt="giảm kích thước chữ"
v:shapes="_x0000_i1027">
' alt="tăng kích thước chữ"
v:shapes="_x0000_i1028">
Tôi được học Thầy Trần Quốc Nghệ những năm trường Phan Đình Phùng
rời về xã Ngu Lâm - Đức Thọ - Hà Tĩnh. Thầy Nghệ là người Thầy đã để lại những
ảnh hưởng to lớn đối với tôi trong suốt cuộc đời.
ở trường Phan Đình Phùng, Thầy có rất nhiều giai thoại. Tài năng
của Thầy được truyền qua nhiều thế hệ học sinh, làm cho bọn học sinh chúng tôi
rất ngưỡng mộ Thầy: Thầy đã từng là võ sĩ quyền Anh có hạng, Thầy là người giỏi
Pháp Văn ít người bì kịp.v.v
Hình ảnh của Thầy còn mãi trong lòng chúng tôi. Nhớ nhất đôi mắt
lác của Thầy. Bọn học sinh chúng tôi kháo nhau là Thầy đánh quyền Anh thường
thắng chính là nhờ đôi mắt lác đó.
Thầy thường ăn mặc giản dị. Nhớ những lúc lên lớp, Thầy gãi lộn cả
hai túi quần ra ngoài, bọn chúng tôi nhìn hai túi quần và cười, Thầy biết, chỉ
nói một câu: “Mình tra rồi mà” (Tra là già, tiếng địa phương Hà Tĩnh). Có cậu
học sinh nào đi tắm giặt trong con sông nhỏ chảy qua Ngu Lâm, trước cửa
trường, mà Thầy biết được, thế nào Thầy cũng gọi vào, gửi giặt hộ Thầy cái áo
hay cái quần. Đối với chúng tôi, việc giặt hộ Thầy đã trở thành thói quen và
coi đó là một vinh hạnh.
Những buổi lên lớp của Thầy cuốn hút chúng tôi bằng sự phân tích
sâu sắc, những ý thật độc đáo bất ngờ, kích thích tính sáng tạo ở chúng tôi,
buộc chúng tôi phải suy nghĩ, tìm tòi. Tôi chỉ tiếc là không nhớ hết những điều
Thầy giảng. Nhưng sau này, mỗi khi gặp lại những hoàn cảnh tương tự, thì trong
óc lại hiện lên những dòng chữ của Thầy, của riêng Thầy.
Chẳng hạn, tôi nhớ mãi một hôm Thầy đến thăm tôi và nói rằng: “Tấn
ạ, không phải tất cả những câu của Khổng Tử đều không thể thêm bớt, ví dụ như
câu “Tứ hải giai huynh đệ” (bốn biển đều là anh em) thì chỉ cần
nói “Tứ hải giai huynh” thế là đủ (bốn biển đều là anh). Hay
như khi Khổng Tử nói “Tri chi vi tri, bất tri vi bất tri thị tri
dã” (biết thì làm ra biết, không biết thì làm ra không biết, ấy là
biết vậy) thì theo mình, nên nói “Tri chi vi bất tri, thị tri dã” (biết
thì làm là không biết, ấy là biết vậy) thế là đủ và sâu sắc hơn.”
Tôi thấy những lời Thầy nói, mình phải chiêm nghiệm suốt đời và
trong lời Thầy, tôi nhận thấy một tư duy độc đáo và độc lập. Trong quá trình
học tập và nghiên cứu của tôi, tôi đã cố gắng rèn luyện kiểu tư duy đó. Trước
mọi vấn đề, tôi bao giờ cũng hết sức tìm tòi một nhận xét không giống ai, của
riêng mình. Tôi dần dần nhận ra đó chính là ảnh hưởng của Thầy Trần Quốc Nghệ.
Trong thời gian Thầy ra Hà Nội để dạy Pháp văn, Thầy hay đến thăm
tôi ở 20 Phan Huy Chú. Thầy đi một chiếc xe đạp mini Liên Xô, đến nhà tôi, Thầy
thường gác xe đạp vào gốc cây trong sân rồi gọi vọng lên “Tấn ơi Tấn”. ở gác
hai, tôi nghe tiếng Thầy thì chạy xuống nhà đón Thầy. Bên cái bàn nước bằng
tre, Thầy nói đủ chuyện, nào chuyện bản dịch Kiều của Nguyễn Khắc Viện đến các
văn bản chữ nôm của Nguyễn Trãi. Chính những lần nghe Thầy nói chuyện này tôi
mới thấy hết cái uyên bác của Thầy.
Tôi đã từng làm việc với nhiều nhà thông thái nhưng chưa bao giờ
gặp một bộ óc uyên bác như Thầy. Chính vì vậy mà tôi mới gọi Thầy là “siêu
giỏi”. Nhớ một lần, Thầy khoe với tôi đã đọc câu đối ở nhà thờ Đặng Tất, Đặng
Dung ở Tùng Lộc, Can Lộc và khen mãi câu đối đó:
Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng
Thầy tấm tắc khen mãi chữ “vô song” và “bất nhị” trong câu đối. Vì
“bất nhị” còn có nghĩa là “không thờ hai chúa”. “Quốc sĩ” hay “anh hùng” chỉ có
một, nhưng ở đây có đến hai người là Đặng Tất và Đặng Dung. Cái hay là ở chỗ
đó.
Tôi đã học tập được nhiều điều qua những buổi nói chuyện của Thầy
Nghệ. Những buổi nói chuyện không chỉ cung cấp cho tôi những kiến thức bằng đầu
óc uyên bác của Thầy mà hơn thế, qua các câu chuyện đó đã dạy cho tôi đạo lý
làm người. Thầy là người cương trực, không bao giờ luồn cúi ai, là một tấm
gương cho chúng tôi.
Tôi thường nhớ lại những người Thầy đã có ảnh hưởng đến sự nghiệp
sau này của tôi trong các trường mà tôi đã được học, như Thầy giáo Ngụy Cao
Hiền hồi tôi học cấp II, Thầy Đào Duy Anh hồi tôi học Đại học và Thầy Trần Quốc
Nghệ lúc tôi học cấp III. Cho đến giờ tôi vẫn nghĩ là được học Thầy Trần Quốc
Nghệ là một điều may mắn đối với tôi trong đời và đó cũng là niềm hạnh phúc.
Tháng 7 năm 2004
THẦY NGHỆ CỦA TÔI
· TỐNG TRẦN LUÂN
· Thứ
năm, 02 Tháng 6 2011 16:08
Một buổi chiều, vào khoảng năm
1956 – 1957 gì đó, tôi lên một chiếc thuyền để từ bến Bãi Bè(xã Sơn Thịnh –
huyện Hương Sơn) đi xuống thành phố vinh. Đó là thuyền của ông Tín, thuyền này
có tiếng tốt nhất trong các thuyền chở khách trên sông Phố, thuyền to, sạch và
có trật tự; nữ được xếp nằm phía mũi thuyền, nam nằm phía đối diện, không để
nằm lẫn lộn như một số thuyền khác.
Tôi đang nhìn quanh để tìm chỗ thì có tiếng gọi đúng tên mình. Tôi
nhìn về phía tiếng gọi, mừng quýnh lên, Thầy Trần Quốc Nghệ! Mấy năm rồi không
gặp Thầy! Thầy Nghệ là thầy giáo tôi, nhưng là bà con bên ngoại của tôi, đứng
về phía họ hàng thì tôi gọi thầy bằng anh, nhưng vì tuổi tác chênh lệch, hơn
nữa lại là thầy, nên không bao giờ tôi gọi “anh”, mà chỉ gọi Thầy và tự xưng
“em”. Thầy kéo tôi lại nằm cạnh, thầy sờ đầu và ngực tôi một lúc rồi nói: sao
kỳ này cậu sang thế? Tôi nói: đã một năm nay em lên ở thị trấn Phố Châu thầy ạ!
Quả thật, từ lúc ở thị trấn đến nay, tôi ăn bận có sang hơn lúc tôi còn ở quê.
Nói là sang nhưng lúc bấy giờ chỉ là chiếc áo sơ mi phin trắng, một chiếc quần
kaki màu vàng, chiếc mũ lá cọ và đôi dép cao su, mà khi đi xa phải qua đêm ở
một nơi nào đó, thì dùng một tờ báo cũ gói lại để gối đầu.
Thầy trò lâu ngày không gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, kể cho nhau
nghe bao nhiêu chuyện vui buồn, đắng ngọt của quãng thời gian vừa qua. Bỗng
thầy nói: bấy lâu nay, mình cứ tưởng cậu rất nghèo, mình rất nhớ rất thương,
nhưng hôm nay nhìn thấy cậu sang thì tình thương đó giảm đi một nửa! Tôi mỉm
cười trong hoàng hôn. Thời kỳ đó người ta cho tình cảm đó của thầy là tình
thương lãng mạn kiểu tiểu tư sản! Tôi muốn nói ý nghĩ đó, nhưng lại không dám
nói! Tôi còn nhớ: năm tôi đang học đệ nhất trung học (lớp 6 bây giờ) một buổi
lên lớp vào buổi sáng, đúng vào buổi trả bài tập làm văn của thầy, thầy bước
từ ngoài cửa vào bục giảng, cất tiếng hỏi: "Ai là Tùng?"
"Có em ạ!", Tùng đứng lên trả lời và cậu cứ đứng tại
chỗ.
Thầy lôi trong túi có đựng tài liệu ra một quyển vở, rồi đến trước
Tùng. Trên tay thầy là một quyển vở quá rách nát bẩn thỉu.! Cả lớp im phăng
phắc, nhớn nhác nhìn Tùng, Tùng! Với bộ mặt hốc hác, tóc bù xù, mặc một áo sơ
mi màu nâu nhạt mà trên ngực, trên vai, trên ống tay, những miếng vải xanh,
tím, vàng. Thầy đứng thừ người, nhìn Tùng, trên tay thầy quyển vở rách được
xoay đi lật lại, chúng tôi biết chắc quyển vở đó là của Tùng. Đứng như thế một
lúc rồi thầy bảo Tùng: hết giờ học cậu lên gặp tôi! Rồi thầy quay lại nhìn tôi,
hất hàm một cái, tôi hiểu ngay, thầy bảo tôi cùng đi với Tùng. Nói xong, thầy
lên bục và giảng dạy bình thường.
Một số bạn bè rất lo cho Tùng, có bạn ghé vào tôi nói nhỏ: phen
này thì Thằng Tung chết! Tôi cười và nói: cứ an tâm, không chết đâu! Tôi biết
rất rõ, thầy rất thương học sinh nghèo. Trước đây, hầu như thành nếp sau lĩnh
lương, thầy hay dẫn một số học sinh mà thầy cho là nghèo nhất, đến nhà hàng ăn
kẹo cu đơ, mà trong đó tôi nhiều lần được tham dự.
Kiểu dáng nghèo khổ rách rưới của Tùng hôm nay nhất định đã tác
động đến thầy.
Hết giờ học, tôi kéo Tùng đến gặp Thầy và bảo Tùng: cứ bình tĩnh
thầy sẽ thưởng cho mày đấy! Đi theo tao! Chúng tôi lại gặp thầy ngay trước văn
phòng nhà trường. Chúng tôi chào, thầy đứng lại, tay vỗ lên trán hai cái, hình
như để nhớ lại điều gì, đoạn cầm tay chúng tôi và nói: đi ăn phở nhé. Ba thầy
trò, không ai có xe đạp, chúng tôi đi bộ đến một quán phở gần quốc lộ số
8. Thầy trò nói chuyện cởi mở, hầu như không có chuyện gì xảy ra trước đó. Đã
ăn hết mỗi người một bát phở. Thầy bảo: ăn thêm nhé! Tôi nhìn Tùng rồi nói :
vâng ạ! Thầy gọi thêm hai bát cho chúng tôi. Tôi nói chúng em ăn thêm mỗi
người nửa bát thôi ạ! Rồi nói với chủ quán: chỉ một bát nữa thôi! Chủ quán gọi
thêm một bát. Tôi cầm bát phở và múc một thìa nước phở cho vào bát tôi, rồi đẩy
bát phở sang phia Tùng và bảo: cậu ăn đi, Tùng ăn hết bát thứ hai một cách ngon
lành. Thầy lại dẫn tiếp chúng tôi đến một cửa hàng gần đấy, ăn kẹo cu đơ, rồi
về nhà Thầy. Thầy cho chúng tôi mỗi đứa một tập giấy đã in một mặt. Về dọc
đường, tôi nhường cho Tùng cả phần giấy của tôi. Lúc này, giấy rất quý, xếp lại
cho mặt in vào trong thì còn tốt hơn nhiều so với giấy đen hồi bấy giờ.
"Cậu nghỉ học mấy năm rồi nhỉ?" Đã bốn năm rồi ạ! Câu
hỏi của thầy cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Tôi kể lại quãng đời cam go vật lộn
kiếm sống của tôi trong mấy năm qua. Thầy lắng nghe, rồi nói: bỏ học thì tiếc
quá! Nếu không có điều kiện thì nên tìm đến một lớp học buổi tối, phải chịu khó
nhé. Im lặng một hồi, thầy bỗng nhắc đến một câu chữ Hán – hình như là của
Khổng Tử, đại ý nói: “Người có nhân” là người trước khi hưởng lợi phải chịu
nhiều gian nan.
Thầy nói tiếp: " Cuộc đời cứ phẳng lì, êm đềm từ
đầu đến cuối, chưa chắc đã hạnh phúc! Nói để cậu mừng nhé: mình vừa mới được
truy lĩnh một số lương của thời gian qua, cũng kha khá đấy! Mình cảm thấy số
tiền này giá trị gấp ngàn lần những gì trước đây mình đã có." Tôi biết
Thầy nhắc tới tiền truy lĩnh lương sau khi bị tù oan sau cải cách ruộng đất.
"à thôi, ta nói chuyện khác nhé!" thầy nói.
Từ đó câu chuyện chuyển sang lĩnh vực văn chương và lịch sử, nhất
là thơ. Thầy Nghệ là thầy giáo nỗi tiếng văn học tây phương (Anh , Pháp) trong
vùng khu bốn cũ, nhưng ngày thường thầy thích nói chuyện văn thơ đông
phương như thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Khuất Nguyên, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm v.v.
và nhiều thơ phú của các tiền nhân. Thầy nói say sưa, nói mãi...
Thấy đã khuya rồi, tôi kéo tay một người nằm cạnh để xem giờ trên
chiếc đồng hồ dạ quang của ông ta. Đã quá 11 giờ đêm! tôi ghé vào tai thầy nói:
“Khuya rồi thầy ạ! Chắc mọi người đều buồn ngủ rồi!” Không ngờ, một người nằm
gần đó nói: "Anh để thầy nói tiếp, chúng tôi chưa ngủ đâu!", một bà
nằm phía bên kia cũng nói vọng sang: anh buồn ngủ thì lại phía kia mà ngủ, nơi
ấy có chỗ trống đấy! Tôi trả lời: “ Không phải đâu ạ! Cháu chỉ sợ mất giấc ngủ
của các cô các chú thôi ạ!” Bà nói: "Chưa ai buồn ngủ đâu! đang nghe thầy
nói thơ văn mà..”
Thì ra mọi người đều thích văn thơ và đang chăm chú nghe. Có những
bài thơ rất trúc trắc, đọc lên khó nghe như bài:Đường vào Xứ Thục gian nan (Thục
đạo nan) mà khi thầy diễn đạt lại sinh động, hấp dẫn và dễ hiểu làm sao!
Chuyện càng về khuya càng sôi nổi, kéo dài mãi. Lúc này không biết đã mấy giờ
đêm, con thuyền vấn trôi nhẹ xuôi theo dòng nước, trời lặng, mặt sông
phẳng, gió thổi rất nhẹ . Chỉ có tiếng mái chèo khua nhẹ đều đều và tiếng nói
của thầy khi cao khi thấp. Tôi nằm thiu thiu, tai loáng thoáng nghe thầy nói,
hình như thầy đang nói đến Bạch Cư Dị và Tỳ Bà Hành, bến Tầm Dương,
canh khuya đưa khách. Tôi ngủ đi lúc nào không biết.
Khoảng 5 giờ sáng hơi tỉnh giấc, tôi cảm giác như ai đẩy vào người
tôi. Tôi tỉnh hẳn và thấy Thầy đã dậy trước tôi đang đẩy tôi về phía một bên,
để lấy lối đi cho mọi người rời khỏi thuyền.
Lúc này con thuyền đã rẽ vào
một nhánh nhỏ của sông Lam và đậu sát chợ Vinh. Tiếng ồn trên chợ vọng đến.
Trên thuyền mọi người lục đục vào chợ để mua hoặc bán hàng, mấy chiếc chiếu đã
được xếp gọn để tạo lối đi, trừ chiếu của thầy trò tôi, mọi người đều đi nhẹ về
phía một bên thuyền, và nói và nói rất khẽ, hình như họ không muốn mất
giấc ngủ của chúng tôi. Biết ý, chúng tôi xếp gọn chiếu và trải gọn về một phía
để nằm tiếp. Mấy phút sau, thuyền chỉ còn lại hai chúng tôi và gia đình chủ
thuyền. Chúng tôi không có việc gì để dậy sớm, và cứ nằm mãi đến quá 7 giờ.
Thầy bảo: bây giờ chúng ta đi mua hộp sữa để ăn sáng nhé.
“Xin thầy để dịp khác! Em phải đến cửa hàng thuốc bắc ngay, theo
giờ hẹn của họ”. Tôi trả lời
Chúng tôi chia tay trước lối vào chợ Vinh. Tôi nhìn thầy, vẫn nét
mặt ấy! Nét mặt thân thương, nhân hậu và độ lượng...Thầy bước đi, sau khi cầm
tay tôi. Tôi nhìn theo...vẫn thế! Vẫn phong thái cũ của thầy, bước đi khoan
thai, đàng hoàng nhưng dứt khoát và có pha chút bướng bỉnh!
Ngày 3 tháng 8 năm 2004
NHỚ VỀ MỘT NGƯỜI THẦY THANH CAO MÀ BÌNH
DỊ
· PHAN ĐÌNH DIỆU
· Thứ
bảy, 30 Tháng 4 2011 22:23
Đầu năm 1953, tôi vào học phổ thông cấp 3 của trường Phan Đình
Phùng, tỉnh Hà Tĩnh. Năm học này, trường đã dời địa điểm về xã Ngu Lâm ở phía
nam huyên Đức Thọ. Là một học sinh nhà quê từ vùng nông thôn Can Lộc lên học
“Trường tỉnh” ở huyên Đức Thọ vào thời đó đối với tôi là một sự kiện lớn, một
niềm vinh dự. Nếu Hà Tĩnh được xem là một tỉnh có truyền thống hiếu học, thì
Đức Thọ ( cùng với Hương Sơn) là vùng văn hóa tập trung của tỉnh, với biết bao
tấm gương về những con người tài năng mà suốt thời tuổi nhỏ tôi vẫn thường được
nghe các bậc cha anh nhắc đến với niềm cảm phục, ngưỡng mộ.
Trường Trung học Phan Đình Phùng là trường học
lớn nhất tỉnh, nơi có nhiều thầy giáo đã từng dạy học trước Cách mạng tháng
Tám, hoặc là các nhà văn, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, do thời cuộc đưa
đẩy đã tụ hội về trường cùng làm cái nghề dạy học vốn được xem là thanh bạch và
cao quý. Bọn học trò nhỏ mới được vào trường như chúng tôi trong những buổi đầu
nhìn lên các thầy với một niềm tôn kính và ngưỡng mộ, nhưng không khỏi có ít
nhiều mặc cảm của sự cách biệt.
Thời gian êm ả trôi qua, và tôi quen dần với cuộc sống chất vật
nghèo nàn của một học sinh xa nhà ỏ trọ và với những buổi học ban đêm đèn dầu
không đủ ánh sáng nhưng đầy hấp dẫn bởi những bài giảng nhiệt tình của các thầy
mở ra cho chúng tôi niềm đam mê đến với những miền kiến thức mới mẻ về toán
học, văn học, địa lý, lịch sử. Những mặc cảm cách biệt qua đi lúc nào không
biết, thầy trò, bè bạn dần trở nên gắn bó thân thiết như trong một gia đình.
Tôi nhớ, vào một chiều mùa thu năm 1953, đang ngồi học một mình
trong nhà trọ thi chợt nghe tiếng chó sủa, nhìn ra cổng thấy một ông khách cao
lớn đội chiếc mũ lá đi vào. Ngỡ ngàng một chút rồi nhận ra ông khách là thầy
Trần Quốc Nghệ, tôi vui mừng và lúng túng mời thầy vào nhà như được đón nhận
một vinh dự bất ngờ. Trong mắt tôi và theo những gì mà tôi được biết, thầy Nghệ
là một người đa tài, từng trải, một người am hiểu cả Nho học và Tây học, một
thầy dạy Văn rất “uyên bác”, còn tôi là học trò binh thường, chưa biểu lộ được
một chút đặc sắc gì về môn học của thầy và vẫn nghĩ rằng mình chẳng có gì đáng
được thầy để ý. Vậy mà bỗng nhiên được thầy đến chơi. Nhìn quanh trong nhà thấy
không có gì đáng đem ra mời thầy, tôi chỉ vào bếp rót bát nước chè xanh đưa lên
bàn rồi ngồi nghe thầy nói. Thầy ân cần hỏi thăm về tình hình sinh hoạt, học
hành, khuyến khích phải chăm học, đừng để uổng phí tuổi trẻ. Trời bỗng nhiên
nhiều mây, rồi lất phất mưa bụi. Tôi mừng vì lưu giữ được thầy ở lại lâu hơn,
nhưng thật băn khoăn vì tiếp thầy quá ư đạm bạc. Bỗng thầy nhìn ra ngoài vườn
rồi bảo tôi: “Cậu ra hái quả khế chua vào đây”. Trời ơi! Chẳng lẽ tiếp thầy
bằng mấy quả khế chua sao? Hái khế xong, tôi đang lúng túng vì không tìm ra
được thứ gì có thể ăn với khế ( chút đường ngọt cũng không có), thì lại nghe
thầy bảo: “Tìm trong nhà có cái bình vôi đưa ra đây”. Tôi tìm được bình vôi (ăn
trầu) đưa ra, thầy điềm nhiên cầm chìa vôi quệt một ít vôi trong bình ra đĩa
rồi cắt khế ra từng miếng, chấm vào vôi và đưa lên miệng. “Cậu có biết ăn cách
này không?” – Thầy hỏi. Tôi xúc động nghẹn ngào “Có ạ”, rồi hai thầy trò cùng
ngồi nhấm nháp bữa tiệc “ khế chấm vôi” và nghe thầy kể bao nhiêu chuyện thú vị
về văn hóa sinh hoạt ẩm thực của quê hương. Cho đến nay đã hơn nửa thế kỷ trôi
qua, nhưng kỷ niệm về “bữa tiệc”độc đáo đó vẫn không bao giờ phai mờ trong ký
ức tôi, với hình ảnh thân thiết bình dị của thầy và bữa tiệc “khế” như của
hai cha con nông dân nghèo trong mái nhà tranh của tuổi thơ quê hương.
Giai đoạn 1953 – 1954 là một giai đoạn nhiều xáo trộn bi thương
trên mảnh đất quê hương Nghệ Tĩnh của chúng tôi. Bên cạnh những niềm vui lớn về
những chiến thắng của cuộc kháng chiến đang dần đi đến hồi kết, thì những màn
đấu tố từ các phong trào “ chống phản động” rồi “giảm tô”, “ cải cách ruộng
đất” càng ngày càng gay gắt, đưa cả một vùng quê vào cảnh xáo trộn. Thầy giáo
và cả các anh chị học sinh lớn tuổi của trường tôi không hiểu vì sao cũng trở
thành đối tượng của cuộc đấu tố đó.
Tôi thấy thầy Nghệ vắng mặt ở trường một thời gian. Cho đến một
buổi sáng trời mưa phùn vảo khoảng giữa năm 1954, tôi đang đi bộ một mình trên
đường từ Lạc Thiện lên thị trấn Đức Thọ thì bổng gặp thầy trong một hoàn cảnh
thật trở trêu. Đường xa mỏi mệt, đang lủi thủi một mình thì thấy từ xa đi theo
hướng ngược lại một tốp ba người, người đi giữa dáng cao lớn, mang một chiếc
tơi lá, hai người đi kèm sau là hai dân quân, một người cầm súng, một người cầm
gậy. Đi gần thêm một chút, tôi bổng rụng rời nhân ra người đi giữa là thầy Nghệ
kính yêu của mình. Tôi không khóc được. Tôi có cảm tưởng thầy cũng nhìn thấy
tôi vì thấy thầy chững lại một bước chân. Rồi tất cả lại tiếp tục đi. Tôi hét
lên một tiếng “ Thầy ơi!”và nghe tiếng quát lại của anh dân quân “Đi đi” và thế
là hết. Tôi nhìn vuốt theo bóng thầy đi cao đạo điềm đạm giữa trời mù sương mãi
cho đến khi khuất bóng.
Một năm sau, giữa đường phố Tràng tiền của Hà Nội sau ngày giải
phóng, tôi tình cờ lại gặp được thầy. Tôi đã qua cái thời thơ bé và thầy đã có
thể nói chuyện với tôi ít nhiều về thời cuộc, về thế thái nhân tình. Hai thầy
trò cùng đi dạo mát một lát, ôn lại những câu chuyện học hành của tôi, còn tôi,
vẫn với niềm ngưỡng mộ đối với thầy như xưa, tôi không dám hỏi những chuyện mà
tôi e là thầy cũng không muốn trả lời. Đó là vào khoảng thời gian mà báo “Nhân
văn” mới bị đình bản, và vụ “Nhân văn, Giai phẩm” đang bắt đầu bị lên án gắt
gao, và theo lời đồn đại, thì thầy cũng không phải hoàn toàn bàng quan với
những xu hướng đó.
Bẵng đi mấy chục năm, đất nước và quê hương đã đi qua một cuộc
chiến tranh khốc liệt, những năm tháng hòa bình nhưng còn đói nghèo vất vả. Cho
đến đầu thập niên 1990, tôi mới được gặp thầy. Thầy đã già, nhưng vẫn quắc
thước như xưa. Một lần đến thăm thầy, trước khi ra về, bỗng thầy cầm tay tôi và
hỏi: “ Nghe nói gần đây cậu có một số bài viết được nhiều người quan tâm, lần
sau có đến đưa cho mình xem nhé!”. Tôi vâng dạ, nhưng tiếc là chưa tìm lại được
những bài mà thầy yêu cầu thì được biết thầy đã về Hà Tĩnh. Và với lần về quê
đó thầy đã mãi mãi không ra Hà Nội nữa. Theo lời nhắn của thầy qua bạn Nguyễn
Quang Thân, tôi có kịp nói chuyện qua điện thoại với thầy một lần, chúc thầy
mạnh khỏe để còn hy vọng gặp lại thầy. Nhưng rồi, thầy đã ra đi. Hôm đến viếng
thầy ở nhà cô Lành ( Con gái thầy) tôi được xem mấy tấm ảnh về phần mộ của
thầy, nơi yên nghỉ của thầy đặt ở lưng chừng núi, nhìn ra một vùng non xanh
nước biếc của mây trời Hương Sơn, tôi thầm cầu chúc cho hương hồn của thầy được
mãi thanh thản cùng đất trời non nước. Thầy, một con người thanh cao mà bình
dị.


















