Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014


 BứC Ký HọA CHÂN DUNG
Tôi đã viết hồi ức về hai người thầy tôn kính: GS Đặng Thái Mai (Được học giờ Văn đầu tiên của GS. Đặng Thái Mai - Tuyển tập Mười năm Tạp chí Văn học và tuổi trẻ) và thầy Nguyễn Quát (Thầy Nguyễn Quát của chúng tôi - Báo Giáo dục và thời đại số 63/64 năm 1994).
Giờ đây cầm bút viết về thầy Trần Quốc Nghệ, người thầy giáo nổi tiếng ở miền Trung, người đã từng dạy dỗ tôi và đã có ba năm liền chung sống dưới mái trường Phan Đình Phùng (từ 1957-1960) mà sao cảm thấy khó khăn quá vậy! Bởi lẽ viết hồi ký thì ít nhiều có khen chê, mà khen chê thầy giáo mình tôi cảm thấy đại bất kính và với thầy Nghệ lại thêm sự bất nhã. Một lẽ khác, tuy sống gần thầy nhưng thực ra hồi ấy tôi không hiểu thầy lắm, đến khi kịp hiểu ra thì thầy đã về với cõi vĩnh hằng rồi .
Thôi đành ghi lại một vài sự thật, không bớt không thêm để bạn bè đã học với thầy hoặc những thế hệ sau hiểu thêm về một người thầy giáo đầy tâm huyết nhưng số phận lại hết sức éo le, chìm nổi. Hiểu được thầy, có lẽ cũng là một sự đền đáp phần nào công ơn để thoả lòng người dưới chín suối.
Một ngày cuối năm 1952, khi học trường cấp II Trần Phú ở Ngu Lâm (xã Đức Trung bây giờ) trong giờ học, một anh bạn chuyền cho tôi một bức ký hoạ chân dung bán thân bé bằng bàn tay, vẽ bằng mực xanh khá đậm nét, hàng dưới có dòng chữ: GS Trần Quốc Nghệ. Lật ra phía sau có dòng chữ nhỏ: Kỷ niệm trường Thiếu sinh quân Liên khu IV. Nghĩ mình lên cấp ba được học với người thầy giỏi nổi tiếng là rất mừng.
Nhưng khi nhìn vào bức ký họa, tôi sững sờ một lát. Đó là hình vẽ một người tóc "húi cua ', sát tận đỉnh đầu, chỉ buông một mái nhọn xuống trán, đầu hơi nhọn, tướng của người tài (Đàn ông nhọn kẻ có tài - Tục ngữ). Cặp mắt to nhưng bị lác, (có không ít người bị lác rất nổi tiếng, ví như triết gia J.P.Sartre, luật gia Phan Anh . .), mũi tẹt, môi trên ở nhân trung có vết rách nhỏ. Một người dị tướng, dị tướng thường có kì tài. Tỉ mẩn ngắm nhìn,tôi thấy toàn bộ bức hình dường như được cấu tạo bằng chữ X hoa bẻ gập. Sau này tôi được biết thầy là một con người hết sức thông minh, có tài nhưng cuộc đời có nhiều ẩn số và rồi về sau này nữa có người xem thầy như "một ẩn số nào đó mà thôi', nhất là những ngày "oan khổ lưu ly" chẳng biết sống chết lúc nào ?
Tự nhiên, bức ký hoạ gây một ấn tượng mạnh, thu hút tâm trí của tôi từ ngày mới lớn và cho đến bây giờ về già vẫn còn nhớ như in. Kèm với bức tranh ký họa là một loạt giai thoại không đầu không cuối. .

 GIAI THOạI KHÔNG HẳN Là CHÂN DUNG

Mấy tháng sau, con người trong bức ký hoạ đó hiển hiện trước mặt tôi. Dưới gốc cây long não của trường Trần Phú (lúc này là Phan Đình Phùng) có bạn chỉ cho tôi một người tầm thước, vai rất rộng, vóc dáng lực sĩ trong bộ đồ bà ba đen nhánh: thầy Trần Quốc Nghệ. Nhìn thoáng qua tôi càng cảm phục anh bạn nào đó đã vẽ bức ký hoạ hết sức chân thật và sinh động.
Những giai thoại về thầy Nghệ lan truyền rất nhanh trong học sinh. Trong ngõ, xóm, đường làng dẫn tới lớp học, ở sân trường, trên những phản gỗ, giường tre, câu chuyện về thầy Nghệ được rì rầm bàn tán. Nào là hồi học Tú tài ở Huế, thầy là một bốc - xơ vô địch Trung Kỳ, những tay đấm có hạng Tây hay ta đều lần lượt bị thầy cho nốc - ao khiếp đảm; nào là thầy đã đấm một thằng Tây, bạn cùng lớp vì thằng này dám chửi một người Việt Nam là "đồ An-nam bẩn thỉu'(sale Annamite). Vì vụ đó, thầy phải trốn về quê ở Thái Yên (Đức Bình) một thời gian. Nào là thầy học rất giỏi, tiếng Pháp, tiếng Anh nói như gió lại thông thạo cả chữ Hán. Và nhỏ to thì thầm về những chuyện khác của thầy nữa.
Sau cách mạng thầy được mời dạy môn tiếng Pháp và văn học Pháp ở trường Chuyên Khoa Huỳnh Thúc Kháng ở Châu Phong (Đức Phong).Thầy lên lớp không cần giáo án sách vở, hai tay đút túi quần, đọc thuộc lòng hàng tràng thơ và kịch thơ Pháp...Những giai thoại ấy khiến chúng tôi càng tò mò và muốn được học với người thầy đa tài ấy. Nhưng thật rủi, lớp tôi chỉ được học mấy giờ với thầy vì chủ yếu thầy phụ trách ở khối 9 cuối cấp (lúc đó cấp 3 chỉ học hai năm: lớp 8 và lớp 9). Tuy chỉ có mấy giờ nhưng ấn tượng của thầy để lại đậm nét vì không phải là giai thoại.
Tôi nhớ một tiết giảng văn trích trong "Cung oán ngâm khúc"của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798):
Trải vách quế gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào. . .
Những " Vách quê', "' Vũ y', "tiêu phòng" chúng tôi dã được biết qua sách "Cung oán ngâm dẫn giải" nhưng sao lại "gió vàng"và "Phận bạc nằm trong má đào? Dường như nắm được cái chưa biết đó, thầy nhấn mạnh: gió vàng, chữ Hán là kim phong, kim là cung chỉ phương Tây, "gió vàng"là "gió tây"thổi về mùa đông lạnh lắm, cho nên mới có "mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng". Người cung nữ với manh áo múa mỏng tanh, mới lạnh lẽo làm sao và câu thơ câu thơ mới hiu hắt làm sao! Còn "má đào" (đào kiểm) và "phận bạc" từ "hồng nhan bạc phận"? Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đều nói, nhưng hơn chục năm trước Nguyễn Gia Thiều đã nói. Một chủ đề huyết mạch trong văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đông Xuân 1953-1954 càng gần chiến dịch Điện Biên, ở khu IV càng sôi sục không khí đấu tranh giảm tô và cải cách ruộng đất. Tôi nghe tin thầy Nghệ bị bắt và mấy ngày trước đó, dường như linh cảm thấy điều chẳng lành, lên lớp thầy kể truyện Những người cùng khổcủa V.Huygo cho học sính, một tác phẩm nổi tiếng thế giới mà thầy đọc thuộc lòng như thuộc Truyện Kiều của Nguyễn Du.
CHUYệN Có THựC KHÔNG Là GIAI THOạI
Cuối năm 1954, giải phóng thủ đô, tôi ra Hà Nội học ở Trường Đại học Văn Khoa, nay là Đại học Sư phạm. Năm 1957 trở về nhận công tác ở trường cấp ba Phan Đình Phùng (ở Thị xã Hà Tinh), được gặp lại ba thầy giáo cũ: Thầy Nguyễn Quát, thầy Trần Văn Thứ và thầy Trần Quốc Nghệ. Mới ba năm mà các thầy già đi nhiều, thầy Quát tóc đã điểm bạc, thầy Nghệ, thầy Thứ gầy gò dáng hom hem của người già và trên nét mặt hằn những vết sâu của cuộc đời chìm nổi.
Thầy Nghệ vừa ở nhà giam ra, sau khi có chí chỉ thị sửa sai cải cách ruộng đất và được trở lại giảng dạy như trước. Thầy gầy và nhỏ hơn, không còn phong độ như hồi ở Ngu Lâm. ở tuổi xấp xỉ "tri thiên mệnh", thầy ít nói, ít vui, không buồn, dường như cam chịu số phận đã an bài. Trên bàn, đôi khi tôi thấy dòng chữ Hán của thầy: Ngã thụ mệnh ư thiên (Ta chịu mệnh ở Trời).
Thầy ăn uống rất đạm bạc, cứ bữa xuống nhà ăn tập thể giáo viên: suất của mỗi người là một tô cơm, một bát canh và con cá trích (có khi là quả trứng, khi vài miếng thịt), những hôm dạy về muộn cơm đã nguội ngắt cứng đờ. Mặc thì hai bộ Ka ki Nam Định, đắp đổi nhau và thầy rất ít khi tắm giặt như là người sợ nước. Nhưng điều kỳ lạ là tuy ở trong nhà giam ra, thầy đã bắt kịp các kiến thức mới mẻ mà chúng tôi phải miệt mài học tập ba năm ở Giảng đường Đại học để nghe các GS. Đặng Thái Mai, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Trương Tửu...giảng bài. Trong đó có những bộ môn hoàn toàn mới và không dễ như: Triết học duy vật biện chứng, lịch sử tư tưởng, lý luận văn học. Thầy được phân công dạy lớp 1 0 cuối cấp, không chỉ vững về kiến thức mà còn truyền thụ giáo dục nhân sinh quan Cách mạng cho học sinh. Quá khứ nặng nề của thầy dường như đã được quên lãng, đã bị xoá nhoà. Phải nói rằng trong những trường hợp như thế, con người rất khó giữ được cân bằng về ý thức, về tình cảm, nói chi đến sự truyền thụ tư tưởng tiến bộ cho học sinh. Vậy mà năm học 1957-1958 ấy trong kỳ thi tốt nghiệp chấm chung của ba trường Lam Sơn (Thanh Hoá), Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An) và Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh) ở thành phố Vinh, học sinh của thầy đạt gần 100% (chỉ một, hai người hỏng), chiếm tỉ lệ cao nhất. Một kỳ tích âm thầm như vậy của thầy giáo thường rơi vào im lặng.
Trong năm học đầu tiên ở trường Phan Đình Phùng, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của nhà văn M.Gorki, tôi được phân công nói chuyện về văn hào Nga trước toàn trường. Bài nói khá thành công, tiếng vỗ tay rào rào khi tôi trích dẫn câu nói nổi tiếng của văn hào Pháp A.France:"Ngày nay trên bậc thang thời gian đã nghe tiếng guốc gỗ ( người nghèo) đi lên và tiếng giày vec-ni (người giàu) đi xuống '?
Nói xong, thầy Quát sung sướng đi lên bắt tay, còn thầy Nghệ chỉ nói: "Khá lắm, sinh viên ở trường ra nói được ba tiếng như vậy là khá lắm". Một lời khen đúng mực như là một tiêu chuẩn đánh giá thầy dạy Văn. Sau này gặp lại thầy, thầy có nói : giáo viên mới ra trường không mấy người có thể nói chuyện văn chương trong vài ba giờ như cậu.
Năm học 1957-1958 qua đi vui vẻ. Mùa hè năm 1958, tất cả giáo viên cấp II, III miền Bắc tập trung ở trường Bổ túc công nông để chỉnh huấn tư tưởng, quét sạch nọc độc Nhân Văn - Giai phẩm trong nhà trường. Có lẽ chưa có một đợt chỉnh huấn nào có quy mô rộng lớn và kéo dài như vậy. Trưởng ban chỉnh huấn là đồng chí Võ Thuần Nho, bí thư là đồng chí Hà Huy Giáp (Thứ trưởng Bộ Giáo dục). Các giảng viên đến giảng bài có các đồng chí Trường Chinh, Hà Huy Giáp, Nguyễn Khánh Toàn, Đỗ Mười, Ngô Minh Loan... Một tháng học lý thuyết, một tháng kiểm thảo, thời gian viết kiểm thảo quy định " nội bất xuất, ngoại bất nhập".
Người được chọn kiểm thảo điển hình cho cụm giáo viên khu IV, không ngoài ai khác là thầy Trần Quốc Nghệ. Nhưng dường như quanh đi quẩn lại cũng chừng ấy vấn đề: với Quốc Dân Đảng, với những phần tử Nhân Văn Giai phẩm. Cũng may cho thầy là hồi ấy ở trong khu IV không có liên hệ với ai, còn chúng tôi cũng may là không tham gia, không liên hệ gì cả. Sau chỉnh huấn, tư tưởng được đổi mới, phấn đấu nhiều hơn để lột xác tiểu tư sản (tạch tạch sè) và đứng vào hàng ngũ người lao động. Còn thầy vẫn như trước, có phần ưu tư hơn. Một hôm, thầy nghĩ thế nào lại nói với tôi: "Cậu thấy không, chỉnh huấn rồi cũng về ngày ngày soạn bài, lên lớp chấm bài, có khác gì đâu"? Tôi sững người, thầy Nghệ "vô chính trị"đến thế là cùng ! Ai mà nghe được câu đó thì không biết thầy bị mấy lần kiểm điểm. Nhưng suốt một thời gian dài, tôi không dám nói với ai, vì tôi nghĩ con người đôi khi vẫn có những lúc buột miệng lỡ lời, nếu đem quy kết thì dễ thành tội nặng là đằng khác. Thời ấu trĩ về chính trị ấy, có người chỉ vì một câu nói, một bài báo cũng đủ kết tội đến mấy chục năm không gỡ ra được.
Thỉnh thoảng tôi thấy thấy đứng tựa cột nhìn chúng tôi trẻ trung yêu đời, vô tư trong cái tuổi chưa hề vấp ngã trong cuộc sống mà dường như nuối tiếc. Thỉnh thoảng, anh Đoàn Duy Xuân ở chung phòng với thầy kể lại trong cơn mơ thầy nói một tràng tiếng Pháp hay tiếng Anh rồi chìm sâu vào giấc ngủ.
Sau chỉnh huấn, chi đoàn thanh niên chúng tôi đề ra phong trào "tam tu' tu nghiệp, tu đức và tu văn. Ngoài phần lên lớp thì đi dự giờ, học ngoại ngữ và chiều chiều kiểm điểm tư tưởng.. Chúng tôi đi dự giờ của nhau và dự giờ thầy để học thêm. Thầy nói trước: giờ giảng của thầy không có gì hấp dẫn, chỉ đạt điểm 3 (điểm trung bình hồi đó). Vẫn như ngày trước, khi tôi được học giờ giảng văn Cung oán ngâm khúc năm nào, thầy hướng dẫn, học sinh hiểu kỹ hiểu sâu những từ ngữ then chốt để từ đó, trong hệ thống bài văn, học sinh đi vào ngõ ngách tình cảm và tư tưởng của nhà văn. Nói như phép dạy Văn hiện nay là "vượt bức tường ngôn ngữ ' để bước vào thế giới tư tưởng, nghệ thuật. Nhưng chúng tôi thường quên bức tường này, vội xông vào thế giới tư tưởng để nói những điều ai cũng biết rồi mà cứ tưởng là mới mẻ, hay ho, thú vị lắm. Bởi lẽ chữ nghĩa của chúng tôi không nhiều, vốn sống lại ít nên chỉ nói như sách mà thôi.
Đúng là giờ văn của thầy không hấp dẫn vì giọng đọc, không thích thú vì những lời lẽ bay bướm văn hoa, vậy mà học sinh hiểu kỹ, hiểu sâu bài giảng và quan trọng hơn là có thể nói lại những điều đã hiểu bằng lời lẽ của chính mình chứ không mượn lời của thầy giáo hay sách vở. Vì thầy dạy giỏi, nên Tổ Văn phân công thầy dạy thêm lớp 8 đậu vớt (gồm những học sinh điểm thi xấp xỉ trung bình). Thế mà sau một học kỳ, qua kiểm tra đề thi chung toàn khối, xáo trộn đanh sách rọc phách hẳn hoi, kết quả lớp 8 của thầy chẳng thua kém lớp nào. Cho đến nay, sau 40 năm trong nghề tôi thấy ít người dạy giỏi như thầy. Những đóng góp âm thầm của nghề giáo như vậy chẳng ai xem là kỳ tích gì ghê gớm, không bằng thành tích đào đất của một cô gái làm thuỷ lợi trong một chiến dịch thi đua nào đó. Không cờ luân lưu, không giải thưởng, bằng khen, tuyên dương rầm rộ gì cả. Chỉ lặng lẽ mà khâm phục, lặng lẽ mà quên đi.
        Nhất là một người có quá khứ phức tạp như thầy. Người vừa ở nhà giam ra ( nhà giam cách nhà trường 3 cây số!) mà được phân công đứng lớp truyền thụ tư tưởng tiến bộ cho học sinh, dạy văn học Cách mạng ở lớp cuối cấp. ở vào thời ấy, người bảo đảm cho thầy kể ra cũng là người biết trọng tài và có bản lĩnh, vì tôi biết có người gặp thầy còn muốn lánh mặt. Nhưng ở trường Phan Đình Phùng và cả bên Ty Giáo dục, ai ai cũng đối xử thân tình, từ ông Trưởng Ty đến cô nhân viên, ai cũng một điều "thầy Nghệ"hai điều "thầy Nghệ" ít nhiều kính nể. Có lẽ sự nâng đỡ ấy làm thầy vững tin hơn, nhiệt tình hơn.
Năm 1959, xảy ra vụ Ngô Đình Diệm đầu độc dã man các tù nhân yêu nước ở nhà tù Phú Lợi. Cả nước sôi sục căm thù. Bài thơ "Thù muôn đời muôn kiếp không tan " của Tố Hữu như một ngọn gió quạt lửa căm thù bùng lên ngùn ngụt. Thầy thức trắng hai đêm dịch bài thơ của Tố Hữu ra tiếng Anh và tiếng Pháp và gửi ngay cho báo Le Vietnam en marche. Bản dịch được người bạn cũ là Hoàng Tôn Trinh - GS Hoàng Trinh) đăng lên báo và có sửa chữa chút ít. Thầy vui hơn, trẻ hẳn ra. Nhân khi thầy đang vui tôi hỏi: "Vì sao thầy không trước tác, dịch thuật?".Thầy nói: "Cậu biết không, tử vi của mình đã ghi: "Xuất thế công danh đạp phá hài"(Ra đời công danh đi giày rách). Chỗ đứng của mình là đi dạy học và chỉ có dạy học mà thôi". Tôi lại hỏi: "Thế trong đời, đã có khi nào thầy cảm thấy đắc ý chưa?" "Có. Có hai lần. Lần đậu Tú tài không sướng, nhưng sướng nhất là khi hạ nốc - ao võ sĩ vô địch Trung Kỳ, cú direct (cú đấm trực tiếp) của mình không thằng nào đỡ nổi...Và lần thứ hai, tướng Nguyễn Sơn cho Nguyễn Tiến Lãng đến mời mình dạy văn học Pháp cho trường thiếu sinh quân LKIV. Danh tiếng Nguyễn Tiến Lãng, người viết tiếng Pháp nổi tiếng đến Tây cũng phục lăn, cậu nghe tiếng chưa? Lúy đến nhà mình hai lần không gặp. Lần thứ 3, mình đang nằm xem sách, ngoảnh mặt vào tường, quay ra thấy Nguyễn Tiến Lãng đứng dưới sân. Lãng nói to bằng tiếng Pháp, đại ý dịch tích "Tam cố thảo lư, Lưu Bị cầu hiền"" (Lưu Bị ba lần quay lại nhà tranh cầu Gia Cát Lượng ra giúp). Vứt sách cười ha hả, cũng chẳng nghĩ là cái ông Lãng ôm chân Tây như thế nào ngày trước nữa..."
"Thế còn lần Bộ trưởng Cù Huy Cận, nhà thơ danh tiếng Huy Cận đến thăm thầy?"
"ừ, bạn cũ lâu năm đấy? Mình ra ngõ đón nhưng buột mồm nói: "Đến thăm bạn cũ , thật vinh dự thay cho Bộ trưởng ?". Ai cũng ngạc nhiên cho là mình xỏ xiên tự phụ, nhưng mình nghĩ: Ngày xưa thủ tướng Các-nô nổi tiếng đến thăm thầy giáo già của mình. Chuyện đó được in trong sử sách và đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh Pháp và Nam, cậu biết chứ? Nhưng học trò Các-nô đến thăm thầy thì chỉ thêm vầng hào quang cho thủ tướng Các-nô chứ ai biết thầy giáo nghèo đó là cái ông nào. Thấy chưa?" Lặng im một lát thầy nói nhỏ "Lẽ đời là thế nhưng dù sao vẫn còn hơn đứa phản phúc, lừa thầy phản bạn" . Nói thế nhưng thầy chẳng ám chỉ ai vì trong đời, thầy chỉ gặp những học trò cũ của mình giúp đỡ, cứu nguy chứ chưa thấy ai phản phúc. Và nếu có, thầy cũng bỏ qua vô tư như là Giăng Van Giăng, một nhân vật mà thầy rất ưa thích trong tác phẩm của văn hào Vích-to Huy gô , như là Thuý Kiều "thân này còn dám coi ai làm thường"
Có lẽ đức tính vô tư quý giá đó đã cân bằng được hoàn cảnh xáo trộn ghê gớm trong đời thầy. Một lần học sinh lớp 10 sắp thi tốt nghiệp và Đại học, Công Đoàn trường mời thầy nói chuyện kinh nghiệm thi cử cho cả trường nghe. Phần đầu nghiêm túc nhưng khô khan, phần sau thầy chuyển sang kể chuyện. Chuyện rằng: Hồi thầy còn trẻ như các em bây giờ đi thi Tú tài, môn Địa lý là môn thầy không thích. Không ôn được chữ nào. Sáng hôm thi ô-ran (vấn đáp), thầy mặc bộ com-lê đẹp nhất, thắt cà vạt hẳn hoi. Thấy một giám khảo người Pháp, thầy bắt chuyện. Hai người xì xồ tiếng Pháp thân mật lắm, vì ông Tây kia cũng tưởng thầy là giám khảo kỳ này. Còn ông Tây hỏi thi Địa lý lại tưởng thầy là bạn của ông kia. Thế là vào phòng thi, thầy Địa chỉ hỏi qua một câu và cho điểm vingt sur vingt (20 điểm trên 20) ngay tắp lự. Học sinh nghe chuyện thì rất khoái nhưng các thấy giáo ngồi nghe chỉ cười gượng mà không dám phàn nàn. ấy, cái vô tư của thầy là như thế? Nghiệm ra trong cuộc sống, các bậc trí thức đều có cái vô tư mà hồi đó có thể quy kết là phi chính trị được lắm?
Cũng trong dịp "căm thù Phú Lợi " , tôi mời thầy dự giờ giảng văn "Thù muôn đổi muôn kiếp không tan" ở lớp 9. Dự lớp xong, thầy vui vẻ: "Hay, giảng hay lắm, cầm lớp vững, truyền thụ khéo, đươc cả khí thế căm thù lại được kiến thức văn học. Nhưng hình như có bao nhiêu hiểu biết cậu nói tuột hết cả rồi. Bây giờ cậu thử lấy bài này, soạn cho mình ba giáo án khác nhau để dạy ở lớp 8, 9 và 10. Làm được thế mới là tay nghề, còn dạy ở lớp nào cũng như lớp nào thì chỉ là tay ngang thôi". Trời ! Đây mới thật là cụ tổ của nghề dạy văn !
Một lần khác trò chuyện, thầy nói: Mình dạy nhiều, hiểu bài giảng cũng kỹ như là hiểu học sinh. Biết cái chỗ học sinh chưa biết, biết cái chỗ thầy chưa biết, ấy là người biết vậy! Phải chăng dây là bí quyết của nghề dạy học mà thầy muốn truyền thụ cho học trò còn non tay nghề. Tiếc thay chưa có một công trình lý luận nào đúc kết lại được.
Nghĩ lại thật thấm thía! Bây giờ hiểu được thầy mới dám viết về thầy. Nỗi đau vật vã về cuộc đời và số phận có lẽ từng là nỗi đau của cả thế hệ trí thức cũ đi theo cách mạng. Có thể gột bỏ con người cũ trong nhận thức và tình cảm nhưng đâu có dễ rủ bỏ số phận con người. Riêng thầy Nghệ, số phận còn éo le hơn, cay đắng hơn nhiều người - một "Giăng Van Giăng" đã đứng vững và tiếp tục cống hiến cho nghề - nghề dạyvăn - một nghề không dễ dàng chút nào, nếu không muốn nói là một nghề nghiệp khó khăn bậc nhất. Vì dạy Văn không chỉ đòi hỏi trí tuệ tỉnh táo mà còn là tình cảm chân thật dồi dào và một lòng thiết tha với thế hệ trẻ. Vượt qua số phận nặng nề, thầy Trần Quốc Nghệ là một người, Tài như thế và âm thầm cống hiến, tâm ¨như thế, xứng đáng được tôn vinh không chỉ một thế hệ mà nhiều thế hệ học trò về sau. Có phải không các bạn?
Từ khóa: 
·                                 Trần Quốc Nghệ 
·                                 Nhà giáo 
·                                 Trần Quốc Nghệ 
·                                 Nhà giáo
NHỚ NGƯỜI THẦY “SIÊU GIỎI” TRẦN QUỐC NGHỆ CỦA CHÚNG TÔI
·                                   HÀ VĂN TẤN
·                                 Thứ hai, 25 Tháng 4 2011 18:36
Tôi được học Thầy Trần Quốc Nghệ những năm trường Phan Đình Phùng rời về xã Ngu Lâm - Đức Thọ - Hà Tĩnh. Thầy Nghệ là người Thầy đã để lại những ảnh hưởng to lớn đối với tôi trong suốt cuộc đời.
ở trường Phan Đình Phùng, Thầy có rất nhiều giai thoại. Tài năng của Thầy được truyền qua nhiều thế hệ học sinh, làm cho bọn học sinh chúng tôi rất ngưỡng mộ Thầy: Thầy đã từng là võ sĩ quyền Anh có hạng, Thầy là người giỏi Pháp Văn ít người bì kịp.v.v
Hình ảnh của Thầy còn mãi trong lòng chúng tôi. Nhớ nhất đôi mắt lác của Thầy. Bọn học sinh chúng tôi kháo nhau là Thầy đánh quyền Anh thường thắng chính là nhờ đôi mắt lác đó.
Thầy thường ăn mặc giản dị. Nhớ những lúc lên lớp, Thầy gãi lộn cả hai túi quần ra ngoài, bọn chúng tôi nhìn hai túi quần và cười, Thầy biết, chỉ nói một câu: “Mình tra rồi mà” (Tra là già, tiếng địa phương Hà Tĩnh). Có cậu học sinh nào đi tắm giặt trong con sông nhỏ chảy qua Ngu Lâm, trước cửa trường, mà Thầy biết được, thế nào Thầy cũng gọi vào, gửi giặt hộ Thầy cái áo hay cái quần. Đối với chúng tôi, việc giặt hộ Thầy đã trở thành thói quen và coi đó là một vinh hạnh.
Những buổi lên lớp của Thầy cuốn hút chúng tôi bằng sự phân tích sâu sắc, những ý thật độc đáo bất ngờ, kích thích tính sáng tạo ở chúng tôi, buộc chúng tôi phải suy nghĩ, tìm tòi. Tôi chỉ tiếc là không nhớ hết những điều Thầy giảng. Nhưng sau này, mỗi khi gặp lại những hoàn cảnh tương tự, thì trong óc lại hiện lên những dòng chữ của Thầy, của riêng Thầy.
Chẳng hạn, tôi nhớ mãi một hôm Thầy đến thăm tôi và nói rằng: “Tấn ạ, không phải tất cả những câu của Khổng Tử đều không thể thêm bớt, ví dụ như câu “Tứ hải giai huynh đệ” (bốn biển đều là anh em) thì chỉ cần nói “Tứ hải giai huynh” thế là đủ (bốn biển đều là anh). Hay như khi Khổng Tử nói “Tri chi vi tri, bất tri vi bất tri thị tri dã” (biết thì làm ra biết, không biết thì làm ra không biết, ấy là biết vậy) thì theo mình, nên nói “Tri chi vi bất tri, thị tri dã” (biết thì làm là không biết, ấy là biết vậy) thế là đủ và sâu sắc hơn.”
Tôi thấy những lời Thầy nói, mình phải chiêm nghiệm suốt đời và trong lời Thầy, tôi nhận thấy một tư duy độc đáo và độc lập. Trong quá trình học tập và nghiên cứu của tôi, tôi đã cố gắng rèn luyện kiểu tư duy đó. Trước mọi vấn đề, tôi bao giờ cũng hết sức tìm tòi một nhận xét không giống ai, của riêng mình. Tôi dần dần nhận ra đó chính là ảnh hưởng của Thầy Trần Quốc Nghệ.
Trong thời gian Thầy ra Hà Nội để dạy Pháp văn, Thầy hay đến thăm tôi ở 20 Phan Huy Chú. Thầy đi một chiếc xe đạp mini Liên Xô, đến nhà tôi, Thầy thường gác xe đạp vào gốc cây trong sân rồi gọi vọng lên “Tấn ơi Tấn”. ở gác hai, tôi nghe tiếng Thầy thì chạy xuống nhà đón Thầy. Bên cái bàn nước bằng tre, Thầy nói đủ chuyện, nào chuyện bản dịch Kiều của Nguyễn Khắc Viện đến các văn bản chữ nôm của Nguyễn Trãi. Chính những lần nghe Thầy nói chuyện này tôi mới thấy hết cái uyên bác của Thầy.
Tôi đã từng làm việc với nhiều nhà thông thái nhưng chưa bao giờ gặp một bộ óc uyên bác như Thầy. Chính vì vậy mà tôi mới gọi Thầy là “siêu giỏi”. Nhớ một lần, Thầy khoe với tôi đã đọc câu đối ở nhà thờ Đặng Tất, Đặng Dung ở Tùng Lộc, Can Lộc và khen mãi câu đối đó:
Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng
Thầy tấm tắc khen mãi chữ “vô song” và “bất nhị” trong câu đối. Vì “bất nhị” còn có nghĩa là “không thờ hai chúa”. “Quốc sĩ” hay “anh hùng” chỉ có một, nhưng ở đây có đến hai người là Đặng Tất và Đặng Dung. Cái hay là ở chỗ đó.
Tôi đã học tập được nhiều điều qua những buổi nói chuyện của Thầy Nghệ. Những buổi nói chuyện không chỉ cung cấp cho tôi những kiến thức bằng đầu óc uyên bác của Thầy mà hơn thế, qua các câu chuyện đó đã dạy cho tôi đạo lý làm người. Thầy là người cương trực, không bao giờ luồn cúi ai, là một tấm gương cho chúng tôi.
Tôi thường nhớ lại những người Thầy đã có ảnh hưởng đến sự nghiệp sau này của tôi trong các trường mà tôi đã được học, như Thầy giáo Ngụy Cao Hiền hồi tôi học cấp II, Thầy Đào Duy Anh hồi tôi học Đại học và Thầy Trần Quốc Nghệ lúc tôi học cấp III. Cho đến giờ tôi vẫn nghĩ là được học Thầy Trần Quốc Nghệ là một điều may mắn đối với tôi trong đời và đó cũng là niềm hạnh phúc.
Tháng 7 năm 2004
THẦY NGHỆ CỦA TÔI
·                                   TỐNG TRẦN LUÂN
·                                 Thứ năm, 02 Tháng 6 2011 16:08
·                                 font size ' alt="giảm kích thước chữ" v:shapes="_x0000_i1029">  tăng kích thước chữ
Một buổi chiều, vào khoảng năm 1956 – 1957 gì đó, tôi lên một chiếc thuyền để từ bến Bãi Bè(xã Sơn Thịnh – huyện Hương Sơn) đi xuống thành phố vinh. Đó là thuyền của ông Tín, thuyền này có tiếng tốt nhất trong các thuyền chở khách trên sông Phố, thuyền to, sạch và có trật tự; nữ được xếp nằm phía mũi thuyền, nam nằm phía đối diện, không để nằm lẫn lộn như một số thuyền khác.
Tôi đang nhìn quanh để tìm chỗ thì có tiếng gọi đúng tên mình. Tôi nhìn về phía tiếng gọi, mừng quýnh lên, Thầy Trần Quốc Nghệ! Mấy năm rồi không gặp Thầy! Thầy Nghệ là thầy giáo tôi, nhưng là bà con bên ngoại của tôi, đứng về phía họ hàng thì tôi gọi thầy bằng anh, nhưng vì tuổi tác chênh lệch, hơn nữa lại là thầy, nên không bao giờ tôi gọi “anh”, mà chỉ gọi Thầy và tự xưng “em”. Thầy kéo tôi lại nằm cạnh, thầy sờ đầu và ngực tôi một lúc rồi nói: sao kỳ này cậu sang thế? Tôi nói: đã một năm nay em lên ở thị trấn Phố Châu thầy ạ! Quả thật, từ lúc ở thị trấn đến nay, tôi ăn bận có sang hơn lúc tôi còn ở quê. Nói là sang nhưng lúc bấy giờ chỉ là chiếc áo sơ mi phin trắng, một chiếc quần kaki màu vàng, chiếc mũ lá cọ và đôi dép cao su, mà khi đi xa phải qua đêm ở một nơi nào đó, thì dùng một tờ báo cũ gói lại để gối đầu.
Thầy trò lâu ngày không gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, kể cho nhau nghe bao nhiêu chuyện vui buồn, đắng ngọt của quãng thời gian vừa qua. Bỗng thầy nói: bấy lâu nay, mình cứ tưởng cậu rất nghèo, mình rất nhớ rất thương, nhưng hôm nay nhìn thấy cậu sang thì tình thương đó giảm đi một nửa! Tôi mỉm cười trong hoàng hôn. Thời kỳ đó người ta cho tình cảm đó của thầy là tình thương lãng mạn kiểu tiểu tư sản! Tôi muốn nói ý nghĩ đó, nhưng lại không dám nói! Tôi còn nhớ: năm tôi đang học đệ nhất trung học (lớp 6 bây giờ) một buổi lên lớp vào buổi sáng, đúng vào buổi trả bài tập làm văn của thầy, thầy bước từ ngoài cửa vào bục giảng, cất tiếng hỏi: "Ai là Tùng?"

"Có em ạ!", Tùng đứng lên trả lời và cậu cứ đứng tại chỗ.
Thầy lôi trong túi có đựng tài liệu ra một quyển vở, rồi đến trước Tùng. Trên tay thầy là một quyển vở quá rách nát bẩn thỉu.! Cả lớp im phăng phắc, nhớn nhác nhìn Tùng, Tùng! Với bộ mặt hốc hác, tóc bù xù, mặc một áo sơ mi màu nâu nhạt mà trên ngực, trên vai, trên ống tay, những miếng vải xanh, tím, vàng. Thầy đứng thừ người, nhìn Tùng, trên tay thầy quyển vở rách được xoay đi lật lại, chúng tôi biết chắc quyển vở đó là của Tùng. Đứng như thế một lúc rồi thầy bảo Tùng: hết giờ học cậu lên gặp tôi! Rồi thầy quay lại nhìn tôi, hất hàm một cái, tôi hiểu ngay, thầy bảo tôi cùng đi với Tùng. Nói xong, thầy lên bục và giảng dạy bình thường.
Một số bạn bè rất lo cho Tùng, có bạn ghé vào tôi nói nhỏ: phen này thì Thằng Tung chết! Tôi cười và nói: cứ an tâm, không chết đâu! Tôi biết rất rõ, thầy rất thương học sinh nghèo. Trước đây, hầu như thành nếp sau lĩnh lương, thầy hay dẫn một số học sinh mà thầy cho là nghèo nhất, đến nhà hàng ăn kẹo cu đơ, mà trong đó tôi nhiều lần được tham dự.
Kiểu dáng nghèo khổ rách rưới của Tùng hôm nay nhất định đã tác động đến thầy.
Hết giờ học, tôi kéo Tùng đến gặp Thầy và bảo Tùng: cứ bình tĩnh thầy sẽ thưởng cho mày đấy! Đi theo tao! Chúng tôi lại gặp thầy ngay trước văn phòng nhà trường. Chúng tôi chào, thầy đứng lại, tay vỗ lên trán hai cái, hình như để nhớ lại điều gì, đoạn cầm tay chúng tôi và nói: đi ăn phở nhé. Ba thầy trò, không ai có xe đạp, chúng tôi đi bộ đến một quán phở gần quốc lộ số 8. Thầy trò nói chuyện cởi mở, hầu như không có chuyện gì xảy ra trước đó. Đã ăn hết mỗi người một bát phở. Thầy bảo: ăn thêm nhé! Tôi nhìn Tùng rồi nói : vâng ạ! Thầy gọi thêm hai bát cho chúng tôi. Tôi nói chúng em ăn thêm mỗi người nửa bát thôi ạ! Rồi nói với chủ quán: chỉ một bát nữa thôi! Chủ quán gọi thêm một bát. Tôi cầm bát phở và múc một thìa nước phở cho vào bát tôi, rồi đẩy bát phở sang phia Tùng và bảo: cậu ăn đi, Tùng ăn hết bát thứ hai một cách ngon lành. Thầy lại dẫn tiếp chúng tôi đến một cửa hàng gần đấy, ăn kẹo cu đơ, rồi về nhà Thầy. Thầy cho chúng tôi mỗi đứa một tập giấy đã in một mặt. Về dọc đường, tôi nhường cho Tùng cả phần giấy của tôi. Lúc này, giấy rất quý, xếp lại cho mặt in vào trong thì còn tốt hơn nhiều so với giấy đen hồi bấy giờ.

"Cậu nghỉ học mấy năm rồi nhỉ?" Đã bốn năm rồi ạ! Câu hỏi của thầy cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Tôi kể lại quãng đời cam go vật lộn kiếm sống của tôi trong mấy năm qua. Thầy lắng nghe, rồi nói: bỏ học thì tiếc quá! Nếu không có điều kiện thì nên tìm đến một lớp học buổi tối, phải chịu khó nhé. Im lặng một hồi, thầy bỗng nhắc đến một câu chữ Hán – hình như là của Khổng Tử, đại ý nói: “Người có nhân” là người trước khi hưởng lợi phải chịu nhiều gian nan.
Thầy nói tiếp: " Cuộc đời cứ phẳng lì, êm đềm từ đầu đến cuối, chưa chắc đã hạnh phúc! Nói để cậu mừng nhé: mình vừa mới được truy lĩnh một số lương của thời gian qua, cũng kha khá đấy! Mình cảm thấy số tiền này giá trị gấp ngàn lần những gì trước đây mình đã có." Tôi biết Thầy nhắc tới tiền truy lĩnh lương sau khi bị tù oan sau cải cách ruộng đất. "à thôi, ta nói chuyện khác nhé!" thầy nói.
Từ đó câu chuyện chuyển sang lĩnh vực văn chương và lịch sử, nhất là thơ. Thầy Nghệ là thầy giáo nỗi tiếng văn học tây phương (Anh , Pháp) trong vùng khu bốn cũ, nhưng ngày thường thầy thích nói chuyện văn thơ đông phương như thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Khuất Nguyên, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm v.v. và nhiều thơ phú của các tiền nhân. Thầy nói say sưa, nói mãi...
Thấy đã khuya rồi, tôi kéo tay một người nằm cạnh để xem giờ trên chiếc đồng hồ dạ quang của ông ta. Đã quá 11 giờ đêm! tôi ghé vào tai thầy nói: “Khuya rồi thầy ạ! Chắc mọi người đều buồn ngủ rồi!” Không ngờ, một người nằm gần đó nói: "Anh để thầy nói tiếp, chúng tôi chưa ngủ đâu!", một bà nằm phía bên kia cũng nói vọng sang: anh buồn ngủ thì lại phía kia mà ngủ, nơi ấy có chỗ trống đấy! Tôi trả lời: “ Không phải đâu ạ! Cháu chỉ sợ mất giấc ngủ của các cô các chú thôi ạ!” Bà nói: "Chưa ai buồn ngủ đâu! đang nghe thầy nói thơ văn mà..”
Thì ra mọi người đều thích văn thơ và đang chăm chú nghe. Có những bài thơ rất trúc trắc, đọc lên khó nghe như bài:Đường vào Xứ Thục gian nan (Thục đạo nan) mà khi thầy diễn đạt lại sinh động, hấp dẫn và dễ hiểu làm sao! Chuyện càng về khuya càng sôi nổi, kéo dài mãi. Lúc này không biết đã mấy giờ đêm, con thuyền vấn trôi nhẹ xuôi theo dòng nước, trời lặng, mặt sông phẳng, gió thổi rất nhẹ . Chỉ có tiếng mái chèo khua nhẹ đều đều và tiếng nói của thầy khi cao khi thấp. Tôi nằm thiu thiu, tai loáng thoáng nghe thầy nói, hình như thầy đang nói đến Bạch Cư Dị và Tỳ Bà Hành, bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách. Tôi ngủ đi lúc nào không biết.
Khoảng 5 giờ sáng hơi tỉnh giấc, tôi cảm giác như ai đẩy vào người tôi. Tôi tỉnh hẳn và thấy Thầy đã dậy trước tôi đang đẩy tôi về phía một bên, để lấy lối đi cho mọi người rời khỏi thuyền.
       Lúc này con thuyền đã rẽ vào một nhánh nhỏ của sông Lam và đậu sát chợ Vinh. Tiếng ồn trên chợ vọng đến. Trên thuyền mọi người lục đục vào chợ để mua hoặc bán hàng, mấy chiếc chiếu đã được xếp gọn để tạo lối đi, trừ chiếu của thầy trò tôi, mọi người đều đi nhẹ về phía một bên thuyền, và nói và nói rất khẽ, hình như họ không muốn mất giấc ngủ của chúng tôi. Biết ý, chúng tôi xếp gọn chiếu và trải gọn về một phía để nằm tiếp. Mấy phút sau, thuyền chỉ còn lại hai chúng tôi và gia đình chủ thuyền. Chúng tôi không có việc gì để dậy sớm, và cứ nằm mãi đến quá 7 giờ. Thầy bảo: bây giờ chúng ta đi mua hộp sữa để ăn sáng nhé.
“Xin thầy để dịp khác! Em phải đến cửa hàng thuốc bắc ngay, theo giờ hẹn của họ”. Tôi trả lời
Chúng tôi chia tay trước lối vào chợ Vinh. Tôi nhìn thầy, vẫn nét mặt ấy! Nét mặt thân thương, nhân hậu và độ lượng...Thầy bước đi, sau khi cầm tay tôi. Tôi nhìn theo...vẫn thế! Vẫn phong thái cũ của thầy, bước đi khoan thai, đàng hoàng nhưng dứt khoát và có pha chút bướng bỉnh!

Ngày 3 tháng 8 năm 2004
NHỚ VỀ MỘT NGƯỜI THẦY THANH CAO MÀ BÌNH DỊ
·                                   PHAN ĐÌNH DIỆU
·                                 Thứ bảy, 30 Tháng 4 2011 22:23
·                                 font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Đầu năm 1953, tôi vào học phổ thông cấp 3 của trường Phan Đình Phùng, tỉnh Hà Tĩnh. Năm học này, trường đã dời địa điểm về xã Ngu Lâm ở phía nam huyên Đức Thọ. Là một học sinh nhà quê từ vùng nông thôn Can Lộc lên học “Trường tỉnh” ở huyên Đức Thọ vào thời đó đối với tôi là một sự kiện lớn, một niềm vinh dự. Nếu Hà Tĩnh được xem là một tỉnh có truyền thống hiếu học, thì Đức Thọ ( cùng với Hương Sơn) là vùng văn hóa tập trung của tỉnh, với biết bao tấm gương về những con người tài năng mà suốt thời tuổi nhỏ tôi vẫn thường được nghe các bậc cha anh nhắc đến với niềm cảm phục, ngưỡng mộ.
Trường Trung học Phan Đình Phùng là trường học lớn nhất tỉnh, nơi có nhiều thầy giáo đã từng dạy học trước Cách mạng tháng Tám, hoặc là các nhà văn, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, do thời cuộc đưa đẩy đã tụ hội về trường cùng làm cái nghề dạy học vốn được xem là thanh bạch và cao quý. Bọn học trò nhỏ mới được vào trường như chúng tôi trong những buổi đầu nhìn lên các thầy với một niềm tôn kính và ngưỡng mộ, nhưng không khỏi có ít nhiều mặc cảm của sự cách biệt.
Thời gian êm ả trôi qua, và tôi quen dần với cuộc sống chất vật nghèo nàn của một học sinh xa nhà ỏ trọ và với những buổi học ban đêm đèn dầu không đủ ánh sáng nhưng đầy hấp dẫn bởi những bài giảng nhiệt tình của các thầy mở ra cho chúng tôi niềm đam mê đến với những miền kiến thức mới mẻ về toán học, văn học, địa lý, lịch sử. Những mặc cảm cách biệt qua đi lúc nào không biết, thầy trò, bè bạn dần trở nên gắn bó thân thiết như trong một gia đình.
Tôi nhớ, vào một chiều mùa thu năm 1953, đang ngồi học một mình trong nhà trọ thi chợt nghe tiếng chó sủa, nhìn ra cổng thấy một ông khách cao lớn đội chiếc mũ lá đi vào. Ngỡ ngàng một chút rồi nhận ra ông khách là thầy Trần Quốc Nghệ, tôi vui mừng và lúng túng mời thầy vào nhà như được đón nhận một vinh dự bất ngờ. Trong mắt tôi và theo những gì mà tôi được biết, thầy Nghệ là một người đa tài, từng trải, một người am hiểu cả Nho học và Tây học, một thầy dạy Văn rất “uyên bác”, còn tôi là học trò binh thường, chưa biểu lộ được một chút đặc sắc gì về môn học của thầy và vẫn nghĩ rằng mình chẳng có gì đáng được thầy để ý. Vậy mà bỗng nhiên được thầy đến chơi. Nhìn quanh trong nhà thấy không có gì đáng đem ra mời thầy, tôi chỉ vào bếp rót bát nước chè xanh đưa lên bàn rồi ngồi nghe thầy nói. Thầy ân cần hỏi thăm về tình hình sinh hoạt, học hành, khuyến khích phải chăm học, đừng để uổng phí tuổi trẻ. Trời bỗng nhiên nhiều mây, rồi lất phất mưa bụi. Tôi mừng vì lưu giữ được thầy ở lại lâu hơn, nhưng thật băn khoăn vì tiếp thầy quá ư đạm bạc. Bỗng thầy nhìn ra ngoài vườn rồi bảo tôi: “Cậu ra hái quả khế chua vào đây”. Trời ơi! Chẳng lẽ tiếp thầy bằng mấy quả khế chua sao? Hái khế xong, tôi đang lúng túng vì không tìm ra được thứ gì có thể ăn với khế ( chút đường ngọt cũng không có), thì lại nghe thầy bảo: “Tìm trong nhà có cái bình vôi đưa ra đây”. Tôi tìm được bình vôi (ăn trầu) đưa ra, thầy điềm nhiên cầm chìa vôi quệt một ít vôi trong bình ra đĩa rồi cắt khế ra từng miếng, chấm vào vôi và đưa lên miệng. “Cậu có biết ăn cách này không?” – Thầy hỏi. Tôi xúc động nghẹn ngào “Có ạ”, rồi hai thầy trò cùng ngồi nhấm nháp bữa tiệc “ khế chấm vôi” và nghe thầy kể bao nhiêu chuyện thú vị về văn hóa sinh hoạt ẩm thực của quê hương. Cho đến nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng kỷ niệm về “bữa tiệc”độc đáo đó vẫn không bao giờ phai mờ trong ký ức tôi, với hình ảnh thân thiết bình dị của thầy và bữa tiệc “khế” như của hai cha con nông dân nghèo trong mái nhà tranh của tuổi thơ quê hương.
Giai đoạn 1953 – 1954 là một giai đoạn nhiều xáo trộn bi thương trên mảnh đất quê hương Nghệ Tĩnh của chúng tôi. Bên cạnh những niềm vui lớn về những chiến thắng của cuộc kháng chiến đang dần đi đến hồi kết, thì những màn đấu tố từ các phong trào “ chống phản động” rồi “giảm tô”, “ cải cách ruộng đất” càng ngày càng gay gắt, đưa cả một vùng quê vào cảnh xáo trộn. Thầy giáo và cả các anh chị học sinh lớn tuổi của trường tôi không hiểu vì sao cũng trở thành đối tượng của cuộc đấu tố đó.
Tôi thấy thầy Nghệ vắng mặt ở trường một thời gian. Cho đến một buổi sáng trời mưa phùn vảo khoảng giữa năm 1954, tôi đang đi bộ một mình trên đường từ Lạc Thiện lên thị trấn Đức Thọ thì bổng gặp thầy trong một hoàn cảnh thật trở trêu. Đường xa mỏi mệt, đang lủi thủi một mình thì thấy từ xa đi theo hướng ngược lại một tốp ba người, người đi giữa dáng cao lớn, mang một chiếc tơi lá, hai người đi kèm sau là hai dân quân, một người cầm súng, một người cầm gậy. Đi gần thêm một chút, tôi bổng rụng rời nhân ra người đi giữa là thầy Nghệ kính yêu của mình. Tôi không khóc được. Tôi có cảm tưởng thầy cũng nhìn thấy tôi vì thấy thầy chững lại một bước chân. Rồi tất cả lại tiếp tục đi. Tôi hét lên một tiếng “ Thầy ơi!”và nghe tiếng quát lại của anh dân quân “Đi đi” và thế là hết. Tôi nhìn vuốt theo bóng thầy đi cao đạo điềm đạm giữa trời mù sương mãi cho đến khi khuất bóng.
Một năm sau, giữa đường phố Tràng tiền của Hà Nội sau ngày giải phóng, tôi tình cờ lại gặp được thầy. Tôi đã qua cái thời thơ bé và thầy đã có thể nói chuyện với tôi ít nhiều về thời cuộc, về thế thái nhân tình. Hai thầy trò cùng đi dạo mát một lát, ôn lại những câu chuyện học hành của tôi, còn tôi, vẫn với niềm ngưỡng mộ đối với thầy như xưa, tôi không dám hỏi những chuyện mà tôi e là thầy cũng không muốn trả lời. Đó là vào khoảng thời gian mà báo “Nhân văn” mới bị đình bản, và vụ “Nhân văn, Giai phẩm” đang bắt đầu bị lên án gắt gao, và theo lời đồn đại, thì thầy cũng không phải hoàn toàn bàng quan với những xu hướng đó.
Bẵng đi mấy chục năm, đất nước và quê hương đã đi qua một cuộc chiến tranh khốc liệt, những năm tháng hòa bình nhưng còn đói nghèo vất vả. Cho đến đầu thập niên 1990, tôi mới được gặp thầy. Thầy đã già, nhưng vẫn quắc thước như xưa. Một lần đến thăm thầy, trước khi ra về, bỗng thầy cầm tay tôi và hỏi: “ Nghe nói gần đây cậu có một số bài viết được nhiều người quan tâm, lần sau có đến đưa cho mình xem nhé!”. Tôi vâng dạ, nhưng tiếc là chưa tìm lại được những bài mà thầy yêu cầu thì được biết thầy đã về Hà Tĩnh. Và với lần về quê đó thầy đã mãi mãi không ra Hà Nội nữa. Theo lời nhắn của thầy qua bạn Nguyễn Quang Thân, tôi có kịp nói chuyện qua điện thoại với thầy một lần, chúc thầy mạnh khỏe để còn hy vọng gặp lại thầy. Nhưng rồi, thầy đã ra đi. Hôm đến viếng thầy ở nhà cô Lành ( Con gái thầy) tôi được xem mấy tấm ảnh về phần mộ của thầy, nơi yên nghỉ của thầy đặt ở lưng chừng núi, nhìn ra một vùng non xanh nước biếc của mây trời Hương Sơn, tôi thầm cầu chúc cho hương hồn của thầy được mãi thanh thản cùng đất trời non nước. Thầy, một con người thanh cao mà bình dị.